
Cách đây gần một thế kỷ, vào năm
1902, chính quyền bảo hộ Pháp quyết định thành lập trường Đại học Y dược Đông
Dương tại Hà Nội, một trường đại học đầu tiên của bán đảo Đông Dương theo mô
hình phương Tây. Hiệu trưởng đầu tiên là một thầy thuốc nổi tiếng của nền Y học
thế giới mà lại rất gắn bó với đất nước Việt Nam: Bác sĩ Yersin. Từ năm 1902 cho
đến năm 1945, các Hiệu trưởng Nhà trường đều là người Pháp và trường nằm dưới sự
điều hành của trường Đại học Paris, ngôn ngữ giảng dạy là tiếng Pháp. Sự phát
triển của trường dẫn đến hình thành hai bệnh viện thực hành đó là Bệnh viện Phủ
Doãn và Bệnh viện Bạch Mai. Cũng trong giai đoạn này, trường đã đào tạo nên các
thế hệ bác sĩ tiền bối có nhiều công sức dựng xây cho nền Y học Việt Nam:
Vũ Đình Tụng, Tôn Thất Tùng, Hoàng Đình Cầu, Phạm Gia Triệu, Đặng Văn Chung,
Đinh Văn Thắng, Đỗ Xuân Hợp, Phạm Biểu Tâm, Nguyễn Thúc Tùng. Nguyễn Hữu....
Giai đoạn này có một người Việt Nam duy nhất được phong hàm Giáo sư, đó là Giáo
sư Hồ Đắc Di, sau khi tốt nghiệp bác sĩ nội trú các bệnh viện Paris về nước.
Năm 1945, hoà chung với khí thế hào hùng của Cách mạng tháng Tám, ba
tháng sau khi Nhà nước VNDCCH ra đời, ngày 15 tháng 11 năm 1945, Trường
Đại học Y dược Hà Nội khai giáng năm học đầu tiên của một quốc gia độc
lập, nhân dịp đó trường đã được vinh dự đón Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu
đến thăm. Nhưng chỉ một thời gian ngắn ngủi của nền độc lập non trẻ, thực
dân pháp quay trở lại xâm lược. Ngày 19-12-1946, từ pháo đài Láng, tiếng
súng phát lệnh mở màn cho cuộc toàn quốc kháng chiến, thày trò trường Y
tham gia phục vu các mặt trận của Hà Nội. Năm 1947, tại núi rừng Việt
Bắc, với một đội ngũ cán bộ ít ỏi nhưng giàu lòng yêu nước, thàỵ trò
Trường Đại học Y đã bắt tay xây dựng Trường Đại học Y khoa kháng chiến,
giảng dạy bằng tiếng Việt. Trong 8 năm kháng chiến chống Pháp với phương
châm tự lực cánh sinh, học giảng đường, đi chiến dịch, quay về bổ túc,
rồi tiếp tục đi chiến dịch, Trường ĐH Y kháng chiến đã cung cấp đầy đủ số
lượng bác sĩ cho các mặt trận và các vùng tự do. Những bác sĩ tốt nghiệp
Nhà trường giai đoạn này, sau này đều trở thành lực lượng nòng cốt của
nền y học Việt Nam như Vũ Triệu An, Phạm Khuê, Vi Huyền Trác, Nguyễn Bửu
Triều...
Năm 1954, hoà cùng với đoàn người chiến thắng, Trường Đại học Y kháng
chiến trở về Hà Nội, cùng với các bác sĩ nội thành tiếp tục xây dựng
Trường Đại học Y Dược Hà Nội trong giai đoạn mới, giai đoạn xây dựng miền
Bắc xã hội chủ nghĩa. Sau 8 năm kháng chiến chống Pháp, nền y tế và y học
Việt Nam có một khoảng cách khá xa với thế giới. Thày trò Nhà trường đã
phấn đấy rút ngắn khoảng cách này. Những phát triển của các chuyên ngành
tim mạch, sốt rét, cắt gan... gắn liền với các tên tuổi Giáo sư Tôn Thất
Tùng, Giáo sư Đặng Văn Ngữ, Giáo sư Đặng Văn Chung... nên Y học thế giới
bắt đầu biết đến nền Y học non trẻ của Việt Nam.
Năm 1965, khi không lực Hoa Kỳ oanh tạc miền Bắc, mở rộng cuộc chiến
tranh xâm lược trên toàn bộ lãnh thổ nước ta, cùng với cả nước chi viện
cho miền Nam, thày trò Trường Y lại lên đường, có mắt trên mọi miền đất
nước, từ Bắc chí Nam, từ hải đảo cho tới miền núi cao, từ các chiến
trường miền Nam cho đến chiến trường Lào. Nhiều người đã năm lại chiến
trường như Giáo sư Đặng Văn Ngữ, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch ... Để đảm bảo
đào tạo, một lần nữa Nhà trường lại sơ tán lên núi rừng Thái Nguyên, sinh
viên từ năm thứ nhất và năm thứ hai học khoa học cơ bản và y học cơ sở
tại đây, sau đó về Hà Nội và các tỉnh đồng bằng sông Hồng thực tập lâm
sàng.
Năm 1975, khi đất nước hoàn toàn giải phóng, Trường Đại học Y Hà Nội một
mặt củng cố để ổn định phát triển, một mặt tiếp tục chi viện nguồn lực
con người cho các trường đại học phía Nam như Đại học Y Huế, Đại học Y
dược Thành phố Hồ Chí Minh, Y khoa Cần Thơ, Y khoa Thái Nguyên. Những
hiệu trưởng hoặc khoa trưởng của các trường này đều nguyên là cán bộ,
sinh viên của Trường Đại học Y Hà Nội như Giáo sư Nguyễn Đình Hối, Giáo
sư Võ Phụng, Thạc sĩ Phạm Hùng Lực...
Từ đầu
những năm 90, hoà chung với công cuộc đổi mới đất nước, Trường Đại học Y
Hà Nội đã vận động theo hai hướng: phát triển những mũi nhọn của y học
chuyên sâu như tim mạch, ghép tạng... một mặt phát triển những nghiên cứu
của sức khoẻ cộng đồng, mở rộng hợp rác đa phương với hầu hết các nước
trong khu vực và trên thế giới như Pháp, Mỹ, Hà Lan, Thuỵ Điển,
Australia, Indonesia, Nhật Bản... tại trường Đại học Y Hà Nội nhiều hội
nghị khoa học quốc tế đã được tổ chức như Hội nghị Tim mạch, Hội nghị
Thận - Tiết niệu, Hội nghị Chấn thương chỉnh hình .... Qua các hội nghị
này, uy tín của Nhà trường ngày càng được nâng lên. Nhiều hợp tác nghiên
cứu quốc tế đã được mở ra. Bên cạnh việc đào tạo và gửi các bác sĩ trẻ
của Việt Nam sang nước ngoài học tập, hàng năm Nhà trường còn nhận thêm
trên dưới 50 sinh viên nước ngoài từ Pháp, Đức, Thuỵ Sĩ, Australia,
Anh... đến thực tập tại các bệnh viện Hà Nội.
Gần 100 năm phát triển,
Trường Đại học Y khoa Hà Nội luôn gắn bó với Hà Nội nói riêng và cả nước
nói chung. Không ít quốc gia trên thế giới đã biết đến trường Đại học Y
Hà Nội trong quá khứ, trong hiện tại, và chắc chắn cả trong tương lai.
Đến nay Nhà trường đã đào tạo trên 17.000 bác sĩ chính qui, khoảng 10
ngàn học viên sau đại học. Đi đến bất cứ nơi nào trên đất nước Việt Nam
ta đều thấy có những dấu ấn của Trường Đại học Y Hà Nội. Và điều đó là
niềm tự hào của thày và trò Trường Đại học Y khoa Hà Nội.
PGS.
Tôn Thất Bách
Hiệu trưởng trường Đại Học Y Hà nôi
|