| Stt |
Tên báo cáo |
Tên tác giả |
Tóm tắt |
Toàn văn |
| 1 |
Phát hiện đột biến gen Hypospadias bằng kỹ thuật phân tử |
Trịnh Thị Thái Hạnh |
|
|
| 2 |
Tư vấn di truyền - sàng lọc và chẩn đoán trước sinh tại bộ môn Y sinh học - Di truyền Đại học Y Hà Nội |
Trần Thị Thanh Hương |
PHƯƠNG HƯỚNG NGHIÊN CỨU CHÍNH CỦA BỘ MÔN
Từ nhu cầu thực tiễn và sự phát triển của khoa học kỹ thuật, phương hướng nghiên cứu chính của bộ môn gồm:
- Ứng dụng các kỹ thuật di truyền tế bào, di truyền phân tử xác định các bệnh tật di truyền. Trên cơ sở đó triển khai ở cộng đồng để xác định mô hình bệnh tật di truyền ở Việt Nam.
- Tư vấn di truyền – Sàng lọc và chẩn đoán trước sinh - Đề xuất các biện pháp can thiệp để hạn chế sinh con dị tật.
- Đánh giá tác động của một số hoá chất, dược liệu lên vật chất di truyền (nhiễm sắc thể, ADN).
Tư vấn di truyền – sàng lọc và chẩn đoán trước sinh là một nội dung nghiên cứu lớn của bộ môn.
TƯ VẤN DI TRUYỀN – SÀNG LỌC VÀ CHẨN ĐOÁN TRƯỚC SINH TẠI BỘ MÔN Y SINH HỌC – DI TRUYỀN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI (2002 - 2007)
Trước năm 2005 bộ môn chủ yếu trả lời xét nghiệm theo yêu cầu bác sĩ kết hợp các bác sĩ lâm sàng (chủ yếu chuyên ngành Sản, Nhi) tư vấn di truyền. Từ 2005 – nay bộ môn đã xây dựng quy trình tư vấn di truyền cho các đối tượng.
|
|
| 3 |
Chẩn đoán di truyền phân tử bệnh Beta Thalassaemia tại bệnh viện Từ Dũ |
Nguyễn Khắc Hân Hoan |
Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả thử nghiệm sàng lọc bằng phương pháp multiplex ARMS-PCR và chẩn đoán xác định bằng ARMS-PCR các đột biến -thalassaemia từ 1/1/2007 – 30/6/2007 tại Bệnh Viện Từ Dũ. Phương pháp: các gia đình có tiền sử bệnh -thalassaemia đã được chẩn đoán trên lâm sàng và huyết học sẽ được sàng lọc và chẩn đoán xác định alen đột biến bằng multiplex ARMS-PCR và ARMS-PCR với bệnh phẩm là tế bào máu ngoại vi hoặc tế bào dịch ối. Kết quả: có 26 trường hợp trong 8 gia đình đã được chẩn đoán tình trạng mang gen bệnh hoặc bị bệnh được giới thiệu đến Phòng Di Truyền Bệnh Viện Từ Dũ để chẩn đoán đột biến gen -globin, trong đó có 3 thai 18 tuần được chẩn đoán trước sinh. 27 phản ứng PCR đã được sử dụng, gồm 11 lần sàng lọc bằng multiplex ARMS-PCR và 16 lần chẩn đoán bằng ARMS-PCR. 33 alen đột biến đã được tìm thấy phù hợp với chẩn đoán lâm sàng, gồm 16 người và 3 thai hợp dị hợp tử mang 1 alen đột biến và 7 người dị hợp tử kép mang 2 alen đột biến khác nhau. Các alen được phát hiện đều thuộc nhóm 8 alen tầm soát. Không có trường hợp nào không tìm thấy alen đột biến. Kết luận: chiến lược tầm soát bằng multiplex ARMS-PCR và chẩn đoán xác đinh lại bằng ARMS-PCR 8 đột biến -thalassaemia giúp tiết kiệm rất nhiều tài nguyên và thời gian. 100% các trường hợp đều phát hiện được đột biến. Cần có một chương trình sàng lọc thalassaemia trước sinh phù hợp để chương trình chẩn đoán có hiệu quả và ý nghĩa cao hơn. |
|
| 4 |
Ứng dụng kỹ thuật lai tại chỗ huỳnh quang trong chẩn đoán trước sinh một số bệnh tật di truyền |
Hoàng Thu Lan |
Giảm tỷ lệ sinh ra những trẻ dị tật là ước mơ của toàn thế giới. Ở Việt Nam hiện nay, vấn đề này cũng đang được quan tâm nghiên cứu rất nhiều. Kỹ thuật lai tại chỗ huỳnh quang (FISH) là một kỹ thuật có thể ứng dụng hữu hiệu để chẩn đoán trước sinh và một số bất thường cấu trúc nhỏ của nhiễm sắc thể (NST) trong bệnh di truyền.. Mục tiêu: Chẩn đoán trước sinh các bất thường NST 13, 18, 21, X, Y bằng kỹ thuật FISH và phân tích NST từ tế bào ối. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 23 mẫu dịch ối tuần thai 15–22 nguy cơ cao bị dị tật. Kỹ thuật FISH và phân tích NST từ tế bào ối. Kết quả: 23/23 mẫu kết quả FISH phù hợp kết quả phân tích NST, đã phát hiện: 4 hội chứng Down (trisomy 21); 5 hội chứng Turner (45,X), 01 hội chứng Patau (trisomy 13), 01 hội chứng Edward (trisomy 18), 01 tam bội,. Kết luận: Ứng dụng kỹ thuật FISH từ tế bào ối có đối chiếu kết quả phân tích NST đã phát hiện trước sinh bất thường NST 13, 18, 21, X, Y .
Từ khoá: bất thường NST, FISH (lai tại chỗ huỳnh quang).
|
|
| 5 |
Chẩn đoán trước sinh bằng phân tích nhiễm sắc thể từ tế bào ối |
Hoàng Thị Ngọc Lan |
Để hạn chế nguy cơ sinh con bất thường NST cần phải tiến hành phân tích NST từ tế bào ối nuôi cấy để phát hiện những bất thường về số lượng NST cũng như những bất thường về cấu trúc NST. Mục tiêu: 1. Phân tích NST ở tế bào ối nuôi cấy để phát hiện sớm các rối loạn NST của thai nhi. 2. Đối chiếu kết quả phân tích nhiễm sắc thể ở tế bào ối với kết quả của sàng lọc (siêu âm thai, qua định lượng AFP, hCG, uE3 trong huyết thanh mẹ). Đối tượng và pháp nghiên cứu: Với phương pháp nghiên cứu ngang mô tả, chọc hút ối được tiến hành ở 240 thai phụ có kết quả sàng lọc dương tính, nuôi cấy tế bào ối theo phương pháp nuôi cấy hở, dài ngày . Kết quả: Đã phát hiện 45 trường hợp có bất thường NST chiếm 18,75% trong đó: Rối loạn số lượng NST: 40 trường hợp (16,67%); Rối loạn về cấu trúc NST: 5trường hợp (2,08%). Kết luận: Như vậy bằng phương pháp nuôi cấy, phân tích NST trong tế bào ối có thể phát hiện những rối loạn số lượng và cấu trúc NST, làm cơ sở cho tư vấn di truyền để hạn chế sự ra đời của trẻ dị tật.
Từ khoá: Phân tích nhiễm sắc thể, nuôi cấy tế bào ối
|
|
| 6 |
Sàng lọc trước sinh bệnh loạn dưỡng cơ Ducheme cho một số bà mẹ có nguy cơ |
Nguyễn Thị Trang |
DMD là bệnh di truyền lặn liên kết nhiễm sắc thể X, được gây nên bởi đột biến gen dystrophin. Thật cần thiết để phòng tránh sự ra đời của những trẻ nam bị bệnh DMD. Mục tiêu: Sàng lọc trước sinh bệnh DMD bằng kỹ thuật Multiplex PCR. Phương pháp: Thu thập tế bào dịch ối từ những phụ nữ có thai, chiết tách ADN từ tế bào ối: bước 1, sàng lọc cho xác định giới bằng kỹ thuật PCR với 2 cặp mồi cho gen TDF và DQ; bước 2: Phát hiện mất đoạn gen ở bệnh nhân DMD và thai nam bằng kỹ thuật Multiplex PCR với 20 cặp mồi. Kết quả: 4 phụ nữ có thai, lần trước đã sinh con bị bệnh DMD được thực hiện sàng lọc, 3 thai nữ được phát hiện với gen TDF (-); 1 thai nam được phát hiện với TDF (+); sàng lọc bước 2 cho thai nam đã phát hiện thai nam không có đột biến mất đoạn được so sánh với bệnh nhân DMD của gia đình này có mất đoạn exon 50, 51, 52, thai nam được chẩn đoán là không bị bệnh DMD. Kết luận: Phương pháp PCR cho xác định giới và đột biến mất đoạn là phương pháp chính xác và nhanh, rất ích lợi để góp phần phòng tránh sinh con trai bị bệnh DMD.
Từ khoá: Loạn dưỡng cơ Duchenne, chẩn đoán trước sinh, khuyết đoạn gen dystrophin.
|
|
| 7 |
Hình ảnh siêu âm ở thai nhu bất thường nhiễm sắc thể |
Trần Danh Cường |
Siêu âm ngày càng đóng vai trò quan trọng trong chẩn đoán trước sinh nhằm phát hiện những bất thường hình thái của thai nhi. [1] [17] Chọc hút nước ối là phương pháp chủ yếu để lấy bệnh phẩm của thai nhằm phát hiện các bất thường nhiễm sắc thể của thai nhất là ở những thai mang một hay nhiều bất thường hình thái được phát hiện bằng siêu âm. [7] [9] [11] Đã từ lâu các nhà siêu âm chẩn đoán trước sinh đều cố gắng tìm những dấu hiệu siêu âm đặc trưng của mỗi một dị dạng nhiễm sắc thể của thai để có những thái độ quyết định xử trí đối với thai, nhất là ở những nơi chưa có điều kiện chọc hút nước ối hay nuôi cấy tế bào nước ối làm nhiễm sắc thể đồ của thai. [13] [14] [15] [17] Trong một vài năm gần đây tại bệnh viện Phụ sản Trung ương đã sử dụng phương pháp siêu âm hình thái và chọc hút nước ối vào công tác chẩn đoán trước sinh đã thu được những kết quả khả quan. Chính vì vậy chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm mục tiêu:
Tìm những dấu hiệu siêu âm đặc trưng của những thai nhi mang dị dạng nhiễm sắc thể.
|
|
| 8 |
Tuổi bố mẹ sinh con bị dị tật bẩm sinh |
Phan Thị Hoan |
Mục tiêu của đề tài: Phân tích yếu tố tuổi của bố mẹ liên quan đến nguy cơ sinh con bị một số dị tật bẩm sinh hay gặp. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả; tiến hành phân tích tuổi của bố mẹ 1314 trường hợp DTBS bao gồm 743 nam (57%) và 561 nữ (43%) thống kê được từ cộng đồng và từ các bệnh viện thuộc nội thành Hà Nội, có so sánh với tuổi của bố mẹ sinh con bình thường tại Bệnh viện phụ sản Hà Nội. Kết quả: -Tuổi trung bình của bố mẹ sinh con DTBS là: tuổi bố: 31,4 ± 7,2; tuổi mẹ: 28,5 ± 6,3 so với nhóm chứng là tuổi bố mẹ sinh con bình thường tại bệnh viện Phụ sản Hà Nội: tuổi bố:32,0 ± 5,7; tuổi mẹ: 28,2 ±5,4. - Tuổi trung bình của bố mẹ sinh con hội chứng Down đều cao hơn tuổi của bố mẹ nhóm chứng: Tuổi bố: 35,6 ± 8,0, tuổi mẹ: 32,0 ± 6,9 (p<0,00001). - Các loại DTBS có tuổi của cả bố và mẹ đều thấp hơn nhóm chứng là: Vô sọ, não úng thuỷ, thoát vị não; sứt môi hở hàm hoặc cả sứt môi hở hàm; không lỗ hậu môn; lỗ đái lệch thấp. - Các loại DTBS chỉ có tuổi bố thấp hơn nhóm chứng: dị tật mắt, hẹp ống tiêu hoá, bụng cóc, dị dạng chi, các bệnh cơ, hội chứng Turner, hội chứng Klinefelter.
- Loại DTBS chỉ có tuổi mẹ thấp hơn nhóm chứng, tuổi bố bình thường: thoát vị bẹn.
Kết luận: Như vậy tuổi của bố mẹ còn trẻ (<25) và tuổi cao (>35) có liên quan khác nhau với các loại DTBS khác nhau ở con.
Từ khoá: Tuổi của bố mẹ, bị tật bẩm sinh.
|
|
| 9 |
Kết quả phân tích nhiễm sắc thể và lai tại chỗ huỳnh quang của một số trường hợp thai có nang bạch huyết |
Nguyễn Thị Quỳnh Thơ |
Nang bạch huyết là một bất thường bẩm sinh của hệ thống bạch huyết hay gặp trên siêu âm thai. Có nhiều nguyên nhân gây nang bạch huyết trong đó hay gặp nhất là rối loạn nhiễm sắc thể. Nang bạch huyết có thể đơn độc hoặc có các bất thường kèm theo. Tiên lượng của thai có nang bạch huyết phụ thuộc vào có hay không các rối loạn nhiễm sắc thể và các dị tật khác. Mục tiêu: Xác định rối loạn nhiễm sắc thể ở những thai có nang bạch huyết bằng phân tích nhiễm sắc thể và lai tại chỗ huỳnh quang (FISH). Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 12 trường hợp thai có nang bạch huyết vùng cổ phát hiện trên siêu âm được nuôi cấy phân tích nhiễm sắc thể và FISH từ tế bào ối. Kết quả: Rối loạn nhiễm sắc thể ở thai có nang bạch huyết là 10/12. Kết quả phân tích nhiễm sắc thể phù hợp với kết quả FISH: 6/12 thai Turner 45,X đều có kích thước nang lớn và chỉ số uE3 giảm mạnh, chỉ số HCG tăng; 2/12 thai Down (47,XX,+21); 2/12 thai Edward (47,XX,+18 và 47,XY,+18); 2/12 thai có karyotyp bình thường (46,XX và 46,XY). Kết luận: - Nang bạch huyết thường kèm rối loạn nhiễm sắc thể. - Các phương pháp phân tích nhiễm sắc thể và FISH đều có ý nghĩa trong việc chẩn đoán rối loạn nhiễm sắc thể của thai có nang bạch huyết. - Kết quả về karyotyp và tình trạng có hay không dị tật kèm theo, tiến triển của nang có vai trò quan trọng trong tiên lượng thai.
Từ khoá: nang bạch huyết, nhiễm sắc thể, FISH
|
|
| 10 |
Kết quả nuôi cấy gai nhau tại bệnh viện Từ Dũ |
Mai Thu Liên |
Mục tiêu: Đánh giá gai nhau sau sinh thiết và nuôi cấy gai nhau trong điều kiện hiện tại ở bệnh viện Từ Dũ. Phương pháp:Thực hiện sinh thiết gai nhau và nuôi cấy dài ngày trên những phụ nữ mang thai 11 – 13 tuần đến bỏ thai tại khoa KHGĐ từ tháng 8/2006 – 10/2006. Kết quả: Có 29 trường hợp được sinh thiết gai nhau; 96,5 % trường hợp sinh thiết ở thai 11 – 12 tuần; Tỷ lệ mẫu gai nhau đạt sau sinh thiết 96,6%; Tỷ lệ mọc tốt qua nuôi cấy tế bào gai nhau 31,0%, nhiễm trùng qua nuôi cấy chiếm: 48,3%, có 6 trường hợp không nuôi cấy; Không có trường hợp nào bất thường bộ nhiễm sắc thể, 46,XX: 8 trường hợp và 46,XY: 1 trường hợp. Kết luận: Sinh thiết gai nhau hoàn toàn có thể thực hiện được trong điều kiện hiện tại ở bệnh viện Từ Dũ. Tỷ lệ nhiễm trùng trong nuôi cấy tế bào gai nhau còn cao. |
|
| 11 |
Ứng dụng kỹ thuật lai tại chỗ huỳnh quang (FISH: Fluorescence In Situ Hybridization) trong chẩn đoán trước sinh các dị bội nhiễm sắc thể thường gặp |
Bùi Võ Minh Hoàng |
Đặt vấn đề: Phần lớn các lệch bội nhiễm sắc thể được chẩn đoán trước sinh liên quan đến các nhiễm sắc thể 13, 18, 21, X và Y. Kỹ thuật lai tại chỗ huỳnh quang (FISH) giúp xác định nhanh các bất thường về số lượng của nhiễm sắc thể trên nhân tế bào ở gian kỳ. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Trong thời gian từ 01 / 2004 đến 12 /2006 chúng tôi đã thực hiện kỹ thuật FISH trên 1628 trường hợp thai kỳ có nguy cơ lệch bội nhiễm sắc thể. Cấy ối được thực hiện kèm theo trong một số trường hợp. Kết quả và bàn luận: 151 (9,29%) lệch bội nhiễm sắc thể được phát hiện bao gồm tam nhiễm sắc thể 21, tam nhiễm sắc thể 18, tam nhiễm sắc thể 13, đơn nhiễm sắc thể X, XXY, XXX và tam bội. Không có trường hợp âm tính giả hay dương tính giả nào được ghi nhận. Kết luận: FISH trên nhân tế bào ối ở gian kỳ là một phương pháp chẩn đoán nhanh và chính xác cho những thai kỳ có nguy cơ cao lệch bội nhiễm sắc thể.
Từ khóa: Nhiễm sắc thể, lệch bội, trước sinh, FISH
|
|
| 12 |
Thiết kế một chương trình "In house software" để sàng lọc các khuyết tật của ống thần kinh qua đánh giá nồng độ alpha-fetoprotein trong huyết thanh sản phụ ở quý hai của thai kỳ |
Nguyễn Viết Nhân |
Khuyết tật của ống thần kinh là một khuyết tật phổ biến, việc sàng lọc trước sinh loại khuyết tật này bằng đánh giá nồng độ alpha- fetoprotein huyết thanh mẹ (AFPHTM) trong quý hai của thai kì đã được áp dụng phổ biến ở các nước phát triển. Tuy nhiên ở Việt nam mặc dù việc đánh giá AFPHTM không khó nhưng việc sàng lọc trước sinh KTOTK còn gặp nhiều khó khăn do giá phần mềm chuyên dụng đắt, giao diện tiếng Anh v.v... Một chương trình "In-House Software" là một giải pháp để khắc phục hai khó khăn cơ bản này nhằm mở rộng công tác sàng lọc trước sinh đối với các KTOTK. |
|
| 13 |
Bước đầu nghiên cứu chẩn đoán trước sinh nhóm máu RHD phôi thai qua phân tích ADN phá thai tự do trong huyết tương máu mẹ |
Trần Văn Khoa |
Đặt vấn đề: Xác định nhóm máu RhD của phôi thai bằng biện pháp không can thiệp rất có giá trị để điều trị cho những phụ nữ mang thai có nhóm máu Rh âm. Những nghiên cứu gần đây đã cho thấy sự xuất hiện của ADN phôi thai trong huyết tương máu mẹ, mở ra khả năng chẩn đoán nhóm máu RhD của phôi thai bằng biện pháp không can thiệp [4]. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành trên 4 phụ nữ có nhóm máu Rh âm, gồm 1 phụ nữ mang thai tuần thứ 8 và 3 phụ nữ không mang thai. ADN tự do trong máu mẹ được tách chiết và nhân lên bằng kỹ thuật PCR với mồi đặc hiệu cho gen RhD. Chẩn đoán bằng huyết thanh nhóm máu Rh cũng được tiến hành đồng thời. Kết quả và bàn luận: Trong số các mẫu máu từ 4 phụ nữ có nhóm máu Rh âm, mẫu máu của phụ nữ mang thai tuần thứ 8 được xác định là có chứa gen RhD, các mẫu máu còn lại được xác định là không chứa gen RhD. Kết luận: Chẩn đoán trước sinh nhóm máu RhD bằng biện pháp không can thiệp có thể thực hiện được và có ứng dụng lâm sàng.
*Từ khoá: RhD, AND phôi thai tự do, chẩn đoán trước sinh
|
|
| 14 |
Phát hiện ADN phôi thai tự do trong huyết tương máu ngoại vi mẹ: Ứng dụng cho chẩn đoán trước sinh bằng biện pháp không can thiệp |
Trần Văn Khoa |
Gần đây, sự phát hiện ra ADN phôi thai trong huyết thanh mẹ đã mở ra một phương pháp mới chẩn đoán trước sinh bằng biện pháp không can thiệp. Mục đích của nghiên cứu này là tách chiết ADN phôi thai tự do trong trong máu ngoại vi mẹ để sử dụng cho chẩn đoán trước sinh bằng biện pháp không can thiệp. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: AND phôi thai được tách chiết từ huyết tương máu ngoại vi của 29 phụ nữ mang thai với tuổi thai từ 7 đến 38 tuần. Gen đặc hiệu giới tính nam – SRY được phân tích bằng kỹ thuật PCR. Kết quả và bàn luận: 15 trong số 29 thai đã được xác định là nam qua phân tích PCR với gen đặc hiệu giới tính nam. Kết quả này hoàn toàn phù hợp với kết quả kiểm tra giới tính qua siêu âm cũng như giới tính sau sinh. Kết luận và kiến nghị: ADN tự do phôi thai tách chiết được từ huyết thanh máu ngoại vi mẹ rất có giá trị để chẩn đoán trước sinh bệnh di truyền bằng biện pháp không can thiệp.
Từ khoá: AND phôi thai tự do, chẩn đoán trước sinh
|
|
| 15 |
Phát hiện các hình ảnh dị tật thành bụng trước và sau khi sinh - cơ chế bệnh sinh của các dị tật này |
Chih-Ping Chen |
|
|
| 16 |
Chẩn đoán trước sinh và điều trị: Từ phòng thí nghiệm đến thực tiễn |
Bùi Thế Hùng |
|
|
| 17 |
Phòng ngừa một số dị tật bẩm sinh |
Andrew E. Czeizel |
|
|
|