Stt Báo cáo tại hội nghị Tên tác giả Tóm tắt
1 Đánh giá kết quả sau điều trị phẫu thuật, hoá trị liệu bệnh sacôm xương tại bệnh viện K 2000-2005

NCS22 - 9h30 - 11/15/2006

Trần Văn Công Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá kết quả, thời gian sống thêm, tỷ lệ tái phát, di căn sau 3 năm điều trị phẫu thuật kết hợp hoá trị liệu bệnh sacôm xương. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu 75 bệnh nhân sacôm xương tại xương dài, giải phẫu bệnh loại sacôm xương nội tuỷ kinh điển, được điều trị phẫu thuật cắt cụt, tháo khớp hoặc bảo tồn kết hợp với hoá trị liệu phác đồ Doxorubicin và Cisplatin tại bệnh viện K từ tháng 6/2000 đến 6/2005, đủ tiêu chuẩn lựa chọn. Đánh giá thời gian sống thêm toàn bộ, không bệnh, tỷ lệ tái phát, di căn sau 3 năm. Phân tích một số yếu tố liên quan như kích thước u, nhóm tuổi, liều hoá trị liệu, thời điểm hoá trị liệu sau phẫu thuật với thời gian sống thêm. Kết quả nghiên cứu: Không có biến chứng nặng sau phẫu thuật. Tỷ lệ độc tính trên bạch cầu hạt là 62,7%, trong đó độc tính độ IV là 10,4%. Thời gian sống thêm trung bình 48 tháng, tỷ lệ sống thêm toàn bộ sau 3 năm là 66,3 %, Tỷ lệ sống thêm không bệnh sau 3 năm là 65,5%. Thời gian sống thêm sau 3 năm có khác nhau ở các nhóm như : Tỷ lệ sống thêm ở nhóm kích thước u < 4 cm: 71,4%, nhóm u kích thước > = 4 cm: 65,5%. Tỷ lệ sống thêm nhóm tuổi < 15 là 71,9%, nhóm tuổi > 15 tuổi 64%. Tỷ lệ sống thêm ở nhóm điều trị liều hoá chất >= 85 % là 74,6 % và nhóm điều trị liều < 85% là 53,4%. Tuy nhiên sự khác biệt còn chưa có ý nghĩa thống kê với test log rank, p> 0,05. Thời gian sống thêm sau 3 năm liên quan với thời điểm hoá trị liệu sau phẫu thuật khác biệt có ý nghĩa thống kê với thời điểm sau phẫu thuật sống thêm sau 3 năm < 15 ngày tỉ lệ là 86,7%, từ 15 ngày là 47,3% với test log rank, p=0,0358. Tỷ lệ tái phát sau 1 năm 2,2%, sau 2 năm 8%, sau 3 năm 7,6%. Tỷ lệ di căn trong 6 tháng là 11,6%. Kết luận: Điều trị phẫu thuật kết hợp hoá trị liệu đã cải thiện rõ rệt kết quả sống thêm cho bệnh nhân sacôm xương.
2 Kết quả bước đầu điều trị quang đông Laser sớm bệnh võng mạc đái tháo đường

NCS24 - 9h15 - 11/15/2006

Nguyễn Duy Anh Bệnh võng mạc đái tháo đường là một trong nhữn biến chứng nặng, hay gặp của bệnh đái tháo đường, là nguyên nhân gây giảm thị lực và mù lòa hàng đầu ở các nước phát triển. Trong khi phẫu thuật chỉ được áp dụng điều trị bệnh võng mạc đái tháo đường ở giai đoạn có các biến chứng trần trọng như xuất huyết dịch kính nặng, tăng sinh dịch kính võng mạc, bong võng mạc... thì điều trị quang đông laser lại tỏ ra có hiệu quả tốt, nhất là trước khi bệnh nhân có biểu hiện của BVMĐTĐ tăng sinh nguy cơ cao. Chúng tôi tiến hành một nghiên cứu ngẫu nhiên so sánh kết quả điều trị giữa hai phương pháp quang đông laser sớm bệnh võng mạc doa đái tháo đường: Quang đông laser toàn võng mạc và Quang đông laser những vùng võng mạc thiếu tưới máu. Kết quả bước đầu trên 35 bệnh nhân ( 70 mắt ) được điều trị và theo rõi tối thiểu sau 5 tháng như sau: 3 mắt có tăng thị lực, 71 mắt thị lực được giữu nguyên và 6 mắt thị lực tiếp tục giảm; chỉ có 5 mắt bệnh tiếp tục nặng lên và và chưa thấy có sự khác nhau về kết quả điều trị giữua hai nhóm điều trị quang đông toàn võng mạc và quang đông vùng võng mạc thiếu tưới máu.
3 Bước đầu nghiên cứu ảnh hưởng của tổn thương ung thư Vòm Mũi Họng tới chức năng thông khí vòi nhĩ

NCS22 - 9h45 - 11/15/2006

Vũ Trường Phong Qua 40 trường hợp ung thư Vòm Họng (NPC) nghiên cứu ở thời điểm mới được chẩn đoán xác định trước khi điều trị, chúng tôi thấy có 25 trường hợp (62,5%) có rối loạn chức năng thông khí vòi nhĩ trong đó có 5 trường hợp (12,5%) ở cả 2 bên. Kết quả này phù hợp với đặc điểm vị trí u nguyên phát thường xuất phát ở thành bên vòm họng (45%) và có những trường hợp khối u quá lớn che lấp hoàn toàn lỗ vòi. Cùng với những rối loạn thông khí vòi được đánh giá qua đo nhĩ lượng thì sự liên quan giữa tổn thương NPC với thính lực hay tình trạng màng nhĩ cũng được mô tả trong nghiên cứu này.Kết quả nghiên cứu cho thấy không những triệu chứng biểu hiện ở tai của NPC là rất đáng lưu ý mà việc xử lý chăm sóc những rối loạn thông khí vòi nhĩ, viêm tai cho người bệnh NPC trong và sau điều trị cũng là vấn đề cần được quan tâm.
4 Nghiên cứu chẩn đoán, chỉ định, xử trí và đánh giá kết quả điều trị sớm sau phẫu thuật cắt bỏ khối tá tụy do chấn thương

NCS21 - 10h00 - 11/15/2006

Trịnh Văn Tuấn Mục đích: Nghiên cứu chẩn đoán, chỉ định, xử trí và đánh giá kết quả sớm sau phẫu thuật cắt bỏ khối tá tụy do chấn thương. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu kết hợp với tiền cứu từ tháng 1/2000 đến tháng 10/2006 tại bệnh viện Việt Đức có 263 trường hợp chấn thương tá tụy được mổ cấp cứu (87 chấn thương tá tràng, 142 chấn thương tụy, 33 chấn thương tá tụy) trong đó 23 trường hợp (8.75%) chấn thương tá tụy được chỉ định cắt khối tá tụy. Kết quả: 23 bệnh nhõn bao gồm: nam: 21 (91.3%), nữ: 2 (8.7%); tuổi trung bỡnh 34.09 ± 14.55 (cao nhất 71, thấp nhất 11); chấn thương bụng kín: 22 (96%); vết thương thấu bụng: 1 (4%). 15 trường hợp (65.22%) đó được mổ xử trí tại các bệnh viện tuyến dưới, 8 (34.78%) tiếp nhận lần đầu tại phũng khỏm bệnh viện. Thời gian từ lỳc tai nạn cho tới khi đến bệnh viện Việt Đức trung bỡnh là 108.1±159.6 giờ với bệnh nhõn đó được mổ ở tuyến trước, 17.13 ± 24.35 giờ với bệnh nhân đến thẳng phũng khỏm bệnh viện. Thăm dũ trước mổ thấy 94.47% có amylase máu cao hơn bỡnh thường. Chụp cắt lớp vi tính 10 trường hợp trước mổ đều cho thấy có tổn thương ở tá tụy. Chỉ định mổ với chẩn đoán: đa chấn thương 4 (17.29%); chấn thương tụy 4 (17.29%); chấn thương tá tụy 10 (43.48%); chấn thương tá tràng: 1 (4.35%); viêm phúc mạc, áp xe sau mổ: 3 (13.04%); xuất huyết tiêu hoá sau mổ vỡ tá tràng: 1 (4.35%). Chỉ định cắt bỏ khối tá tụy dựa vào phân loại của Hiệp hội chấn thương Hoa kỳ (American Association for the Surgery of Trauma - AAST) với tổn thương ở tụy chủ yếu là độ IV (82.6%) kết hợp với nhiều mức độ tổn thương ở tá tràng. Thời gian mổ trung bỡnh là 6.07 ± 1.03 giờ (4 - 8.30 giờ). Biến chứng sau mổ 7 trường hợp (30.43%). Tử vong sau mổ 2 trường hợp (8.7%) do sốc mất máu và suy đa tạng do viêm phúc mạc sau mổ. Thời gian nằm viện trung bỡnh là 21.82 ± 9.42 ngày. Kết luận: Chấn thương tá tụy đũi hỏi phải thực hiện cắt khối tỏ tụy tương đối hiếm gặp nhưng thường nặng, tỷ lệ tử vong cao. Đánh giá tổn thương theo hệ thống phân độ AAST thường từ độ IV, V cho tổn thương ở cả tá tràng và tụy. Chỉ định cắt khối tá tụy cần cân nhắc hợp lý và nờn giới hạn khi thực hiện phẫu thuật này.
5 Đánh giá kết quả điều trị ngoại khoa dị dạng động-tĩnh mạch não tầng trên và dưới lều tiểu não

NCS23 - 10h15 - 11/15/2006

Lê Hồng Nhân Trong thời gian từ tháng 9/2001 đến 9/2006 tại khoa PTTK Bệnh viện Việt Đức đó mổ 84 trường hợp dị dạng động-tĩnh mạch nóo. Trong đó nam: 54 cas (64,3%); nữ : 30 cas (35,7%) với đa số khối dị dạng động-tĩnh mạch nóo nằm ở tầng trờn lều tiểu nóo (80 cas chiếm 95,2%), dưới lều tiểu nóo (4 cas chiếm 4,8%). Những biểu hiện lâm sàng hay gặp nhất của dị dạng động-tĩnh mạch nóo là chảy mỏu trong nóo gõy đột quỵ (95%); động kinh và một số biểu hiện khác như đau đầu (chiếm 5%). Hỡnh ảnh của dị dạng động tĩnh mạch nóo của bệnh nhõn trước mổ đều được phân loại theo SPETZLER-MARTIN với 55 cas loại I; 20 cas loại II; 9 cas loại III. Kết quả phẫu thuật dựa vào phân loại của R. DERUTY với 3 mức độ: Tốt (89,2%: 75 cas) trung bình (6,0%: 5 cas); xấu (4,8%: 4 cas).
6 Những thuộc tính âm học ở người Việt Nam nói giọng thực quản

NCS23 - 10h30 - 11/15/2006

Phạm Thị Bích Đào Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát những thuộc tính âm học ở những người nói giọng thực quản tiến Bắc Bộ, được phân tích giọng nói qua các chỉ số jitter, Shimmer, HNR. So sánh đối chiếu với nhóm chứng ở người bình thường theo kết quả của Viện ngôn ngữ. Kết quả: Nguyên âm A: Chỉ số jitter 74,66% và Shimmer 75,42% có kết quả bình thường, HNR 48,47% có biểu hiện rối loạn ngôn ngữ nặng. Nguyễn âm U: 78,62% bệnh nhân có trị số jitter và Shimmer 68,98% trong giới hạn bình thường. 66,75% bệnh nhân có biểu hiện rối loạn nặng qua chỉ số HNR. Nguyên âm I biểu hiện bình thường trên chỉ số jitter là 10,25% và trên chỉ số Shimmer 12,75% và HNR rối loạn nặng 64,34%. Phụ âm tắc, phụ âm xát, phụ âm rung có chỉ số jitter và Shimmer bình thường cao. Phụ âm nổ và phụ âm bật hơi có biểu hiện rối loạn ngôn ngữ nặng. Kết luận: Giọng thực quản thể hiện tốt được nguyên âm A, U, các phụ âm tắc, phụ âm xát và phụ âm rung. Các âm khó thực hiện được là nguyên âm I, phụ âm nổ và phụ âm bật hơi. Tiếng rè của dịch dạ dày lẫn trong không khí làm tiếng bệnh nhân nói giọng thực quản phát âm ra có độ ồn khá lớn. Từ khóa: Nguyên âm, phụ âm, jitter, Shimmer, HNR - độ hài thanh ( Harmonisity )
7 Kết quả phẫu thuật điều trị viễn thị bằng phương pháp Lasik

NCS23 - 10h45 - 11/15/2006

Cung Hồng Sơn 147 mắt của 84 bệnh nhân viễn thị được phẫu thuật bằng phương pháp LASIK. Chia thành 3 nhóm: Viễn thị nhẹ (+1D đến + 3D) 22 mắt. Viễn thị vừa (+3,25D đến +6D) 67 mắt. Viễn thị nặng (+6,25D đến +10D) 58 mắt. Được đánh giá khúc xạ, thị lực trước và sau mổ: 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng, 24 tháng, 36 tháng và 48 tháng. Hỏi ý kiến bệnh nhân sau mổ. Kết quả * Khúc xạ: Trung bình sau phẫu thuật khúc xạ cầu: Viễn thị nhẹ giảm +1,65D, viễn thị vừa giảm + 4,12D, viễn thị nặng giảm +6,79D. Khúc xạ nằm trong khoảng ±0,5D sau mổ 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng, 24 tháng, 36 tháng là: - Viễn thị nhẹ: 72,7%; 70,5%; 71,4%; 75%; 80% - Viễn thị vừa: 53,7%; 52,6%; 53%; 57,6%; 58%; 57% - Viễn thị nặng: 32,7%; 29%; 27%; 25%; 25%; 12,5% * Thi lực: Thị lực sau mổ tương đương với thị lực khi chỉnh kính tối đa (tính trung bình): Viễn thị nhẹ: 79%, viễn thị vừa: 61,5%, viễn thị nặng: 52% Thị lực trung bình trước và sau phẫu thuật: - Viễn thị nhẹ: Tăng 4,6 hàng - Viễn thị vừa: Tăng 4,3 hàng - Viễn thị nặng: Tăng 1,2 hàng * Khúc xạ và thị lực sau mổ viễn thị nhẹ và vừa tốt hơn viễn thị nặng (Fisher's exact test P < 0,01) * Sau phẫu thuật: 46,5% bệnh nhân hài lòng. 51,7% tương đối hài lòng. 1,7% không hài lòng * Không có ca nào biến chứng trong phẫu thuật
8 Đánh giá kết quả xạ trị trước mổ kết hợp phẫu thuật trong ung thư trực tràng thấp

NCS24 - 11h00 - 11/15/2006

Phạm Quốc Đạt Tóm tắt: Xạ trị kết hợp với phẫu thuật đối với ung thư biểu mô tuyến trực tràng thấp được áp dụng từ thế kỷ XIX, tại Bệnh viện K phác đồ kết hợp này được áp dụng từ năm 1984 và đã thu được kết quả tốt đẹp. Nghiên cứu 45 bệnh nhân ung thư trực tràng được xạ trị tiền phẫu, chúng tôi thấy hầu hết bệnh nhân có đáp ứng tốt: Cải thiện triệu chứng cơ năng, làm u lỏng ra giúp tăng khả năng phẫu thuật triệt căn.
9 Đánh giá hiệu quả của Antagonist và Agonist trên bệnh nhân thụ tinh ống nghiệm có nguy cơ đáp ứng kém với kích thích buồng trứng

NCS24 - 11h15 - 11/15/2006

Nguyễn Xuân Hợi Mục tiêu: so sánh hiệu quả của agonist và antagonist trên bệnh nhân thị thụ tinh trong ống nghiệm có nguy cơ đáp ứng kém với kích thích buồng trứng. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu thực hiện tại trung tâm hỗ trợ sinh sản bệnh viện Phụ Sản Trung ương từ tháng 1 năm 2005 đến tháng 12 năm 2005. Đối tượng và phương pháp nghiên cứư: Các bệnh nhân có nguy cơ đáp ứng kém với kích thích buồng trứng được phân nhóm ngẫu nhiên có 145 bệnh nhân nhận phác đồ sử dụng agonist và 191 bệnh nhân nhận phác đồ sử dụng antagonist. Với phác đồ dùng agonist, bệnh nhân được tiêm agonist từ ngày 2 của chu kỳ kinh sau đó được bổ sung gonadotropins từ ngày 3 của chu kỳ. Với phác đồ dùng antagonist thì bệnh nhân được tiêm gonadotropins từ ngày 2 của chu kỳ. Khi có ít nhất 1 nang noãn có kích thước 14 mm trên siêu âm thì bổ sung gonadotropins. Kết quả: Thời gian kích thích buồng trứng ở nhóm dùng agonist thấp hơp có ý nghĩa so với nhóm dùng antagonist. Nồng độ estrogene và tỷ lệ bệnh nhân có phôi chuyển ở nhóm dùng agonist cao hơn có ý nghĩa so với nhóm dùng antagonist ( 96.3% so với 88.9%) . Tỷ lệ có thai ở nhóm dùng antagonist cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm dùng agonist (23.4% so với 13.6%, p <0.05). Kết luận: phác đồ dùng agonist và antagonist đều có có hiệu quả để kích thích buồng trứng trên bệnh nhân thụ tinh trong ống nghiệm có nguy cơ đáp ứng kém với kích thích buồng trứng.
10 Đánh giá kết quả bước đầu phẫu thuật cắt thực quản không mở ngực ( PT Orringer )

NCS23 - 13h30 - 11/15/2006

Đỗ Mai Lâm Nghiên cứu ứng dụng phương pháp mổ cắt thực quản do ung thư qua khe hoành, không mở ngực (PT Orringer) để điều trị UTTQ đoạn 2/3 dưới. Mục tiêu: (1)Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của UTTQ đoạn 2/3 dưới. (2)Đánh giá kết quả sớm của PT Orringer. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả tiến cứu, theo dõi dọc, ghi nhận và đánh giá các chỉ số lâm sàng, cận lâm sàng của BN trước mổ, các tai biến, biến chứng và tử vong do mổ. Kết quả: Từ tháng 1/2000-6/2006 đã có 68 BN UTTQ đoạn 2/3 dưới có xác nhận chẩn đoán mô học là UTBM TB vẩy hoặc UTBMT đã được mổ cắt TQ không mở ngực qua khe hoành tại Khoa PTTH BV Việt Đức. Bao gồm 64 nam (94,1%), 4 nữ (5,9%), tuổi trung bình 54,29,05. Nuốt nghẹn và giảm cân là triệu chứng hàng đầu (98,5%). 26,6% số BN có rối loạn hô hấp trước mổ. Ba dạng tổn thương thường gặp trên nội soi là u sùi 72,1%, loét 22,1% và chít hẹp 5,8%. Kết quả phẫu thuật: Tỷ lệ tai biến trong mổ 60,3%, chủ yếu là rách màng phổi trong khi bóc tách mò (38/41=92,7%); biến chứng sau mổ 16,2%, tử vong 1,5%. Kết luận: Phẫu thuật cắt TQ qua khe hoành không mở ngực (PT Orringer) được chứng minh trong nghiên cứu này là phù hợp cho những BN UTTQ đoạn 2/3 dưới có tình trạng toàn thân không cho phép mở ngực.
11 Báo cáo kết quả mổ vi phẫu nối vòi tử cung sau triệt sản ở Bệnh viện Phụ Sản Trung ương từ tháng 3/2004 đến tháng 10/2005

NCS23 - 13h45 - 11/15/2006

Đinh Bích Thủy Nghiên cứu 100 phụ nữ vô sinh do tắc vòi tử cung được chụp tử cung-vòi tử cung và nội soi ổ bụng. Kết quả cho thấy tỷ lệ vòi tử cung tắc giả khi chụp tử cung-vòi tử cung được phát hiện khi mổ nội soi là 10,5%. Tỷ lệ vòi tử cung tắc thật khi chụp tử cung-vòi tử cung được phát hiện khi mổ nội soi là 89,5%.
12 Kết quả bước đầu điều trị thận niệu quản đôi bằng phẫu thuật nội soi

NCS23 - 14h00 - 11/15/2006

Đinh Bích Thủy Mục đích : Trình bày kỹ thuật và đánh giá kết quả sớm của phẫu thuật nội soi cắt đơn vị thận bệnh lý trong điều trị thận niệu quản đôi. Đối tượng và phương pháp : Tất cả bệnh nhân được phẫu thuật nội soi cắt đơn vị thận bệnh lý từ 2001 - 2006. Kỹ thuật : Đặt 3 troca vào ổ bụng. Tìm và phẫu tích niệu quản bệnh lý. Cắt đơn vị thận bệnh lý và niệu quản kèm theo. Kết quả : 24 bệnh nhân đã được phẫu thuật nội soi. Thời gian mổ trung bình là 115 phút. Thời gian nằm viện trung bình là 3, 4 ngày. Kết luận : Phẫu thuật nội soi cắt đơn vị thận bệnh lý an toàn và có tính khả thi.
13 Bơm tinh trùng vào buồng tử cung: Liên quan giữa tinh trùng và tỷ lệ có thai ở những cặp vô sinh do thiểu năng tinh trùng

NCS22 - 14h15 - 11/15/2006

Lê Minh Châu Nghiên cứu được tiến hành trên 150 cặp bệnh nhân vô sinh đến khám tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương, được chẩn đoán nguyên nhân vô sinh do thiểu năng tinh trùng, được chỉ định điều trị bằng bơm tinh trùng vào buồng tử cung và được chuẩn bị tinh trùng bằng phương pháp thang nồng độ. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Tỷ lệ có thai/ tổng số bệnh nhân là 26,7%. Tỷ lệ có thai khác nhau có ý nghĩa thống kê với p<0,05 khi: Mật độ tinh trùng trước rửa > 20.106/ml. Tỷ lệ tinh trùng di động trước rửa >40%. Tổng số tinh trùng di động trước rửa >20.106. Tổng số tinh trùng di động thu được sau rửa >5.106. Từ khoá: Thiêủ năng tinh trùng, Bơm tinh trùng vào buồng tử cung.
14 Giá trị của phương pháp nút mạch trong điều trị thông động tĩnh mạch cảnh xoang hang trực tiếp

NCS22 - 14h30 - 11/15/2006

Bùi Văn Giang Nghiên cứu trình bày giá trị của phương pháp nút mạch bằng bóng và bằng vòng kim loại qua đường nội mạch trong điều trị thông động mạch cảnh xoang hang trực tiếp. Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu là các bệnh nhân được chẩn đoán xác định có TĐMCXH qua chụp mạch và được nút mạch qua đường nội mạch. Trong thời gian từ 12 năm 1999 tới tháng 8 năm 2006, có 148 bệnh nhân được chẩn đoán TĐTMXH và được điều trị bằng phương pháp nút mạch với 165 lần nút. Phương pháp nghiên cứu tiến cứu. Kết quả : 98% các trường hợp có kết quả lâm sàng tốt (hết triệu chứng, không có biến chứng thần kinh). Trong số các bệnh nhân phải gây tắc hoàn toàn động mạch cảnh, không có bất kỳ tai biến thần kinh nào. Các trường hợp lưu lượng thông thấp hoặc động mạch cảnh trong bị tắc, vật liệu vòng xoắn kim loại cho phép đưa được vật liệu nút vào vị trí thông để thực hiện được mục tiêu nút mạch. Nút mạch bằng bóng và vòng kim loại tạo ra một hướng điều trị có hiệu quả cao (thành công trong 98% trường hợp), có khả năng thay thế hoàn toàn các phương pháp điều trị khác.
15 Đánh giá kết quả phẫu thuật thay thế xương bàn đạp bằng trụ gốm thủy tinh y sinh trong bệnh xốp xơ tai

NCS23 - 14h45 - 11/15/2006

Lê Công Định Nghiên cứu tiến cứu 50 bệnh nhân xốp xơ tai được phẫu thuật thay thế xương bàn đạp bằng trụ gốm thuỷ tinh.y sinh . Kết quả :74 % ACPTA ≤ 30 dB, 62% rinne ≤ 20 dB sau 1 tháng, 84% sau 6 tháng, 88% hiệu quả Rinne≥10dB sau 1 tháng và 92% sau 6 tháng được coi đạt kết quả tốt về thính lực, 86% giảm hoặc hết ù tai sau mổ.Trụ dẫn âm bằng gốm thuỷ tinh y sinh cộng sinh tốt với cơ thể, hình dạng được thiết kế phù hợp, giá thành rẻ nên có thể ứng dụng rộng rãi tại Việt nam.
16 Sơ bộ đánh giá mối tương quan giữa LH với FSH và LH với Inssulin trong máu của người phụ nữ bị bệnh buồng trứng đa nang

NCS24 - 15h00 - 11/15/2006

Vũ Văn Tâm Đánh giá mối tương quan giữa nồng độ LH với FSH và nồng độ LH với insulin trong máu của bệnh nhân bị hội chứng buồng trứng đa nang là mục tiêu nghiên cứu của chúng tôi. Với một nghiên cứu về rối loạn nội tiết sinh sản trên 57 bệnh nhân bị hội chứng buồng trứng đa nang đến khám và điều trị vô sinh tại bệnh viện Phụ sản Hải phòng trong 6 tháng đầu năm 2006 đã cho kết quả nghiên cứu như sau: (FSH) = 7,06 ; (LH ) = 16,184 , như vậy ( LH ) / (FSH ) > 2 ; ( IN ) = 12,64 Nồng độ LH và nồng độ insulin trong máu bệnh nhân HCBTĐN có liên quan tuyến tính rõ rệt với hệ số tương quan là 0,822. Kết luận : ở phụ nữ bìmh thường, tỷ lệ nồng độ LH / FSH < 1. Ở bệnh nhân HCBTĐN, tỷ lệ nồng độ LH / FSH > 1,5. Sự gia tăng nồng độ LH và nồng độ insulin có liên quan tuyến tính chặt chẽ với hệ số tương quan là 0,822.
17 Đánh giá kết quả phẫu thuật tạo hình xương đe trên bệnh nhân viêm tai giữa mạn

NCS24 - 15h45 - 11/15/2006

Cao Minh Thành Mục tiêu : đánh giá kết quả tạo hình xương đe bằng gốm sinh học và xương con tự thân. Phương pháp : mô tả tiến cứu, so sánh trước và sau phẫu thuật. Số lượng : 21 bệnh nhân được phẫu thuật từ 4/2005 đến 4/2006. Kết quả : PTA ở 4 tần số (0,5-1-2-4kHz) sau phẫu thuật tăng từ 10,41 đến 25,67 dB. Khoảng ABG sau phẫu thuật nằm trong khoảng từ 0- 20 dB chiếm 33,6%, từ 0 – 30 dB chiếm 76,8%.
18 Kết quả phẫu thuật nội soi lồng ngực diệt hạch giao cảm điều trị bệnh ra mồ hôi tay

NCS24 - 16h00 - 11/15/2006

Trần Hữu Vinh 1- Chủ đề : Phẫu thuật nội soi lồng ngực để đốt hạch giao cảm ngực trong điều trị bệnh ra nhiều mồ hôi tay tiên phát. 2- Đối tượng : Bệnh nhân ra nhiều mồ hôi tay tiên phát tại khoa Ngoại BV Bạch Mai giai đoạn 1-2005 đến tháng 8-2006. * Phương pháp nghiên cứu : Mô tả, tiến cứu bằng một phương pháp phẫu thuật và lựa chọn bệnh nhân trước mổ và đánh giá sau mổ thống nhất. 3- Kết quả nghiên cứu: 305 bệnh nhân ra nhiều mồ hôi tay tiên phát được thực hiện trong giai đoạn trên với 156 nam và Nữ 149 .Tuổi trung bình 23,37. * Kết quả phẫu thuật : + Kết quả tốt 301/305 ( 98,72 % ) + Tràn khí và máu sau mổ không có di chứng 4/305 (1.31 % ) + Tử vong : 0 + Tái phát bệnh sau phẫu thuật : 4/305 ( 1,31 % ). 4- Kết luận : Phẫu thuật nội soi lồng ngực diệt hạch giao cảm để điều trị bệnh ra nhiều mồ hôi tay là một phương pháp có hiệu quả an toàn.Tỷ lệ tái phát thấp.
19 Phẫu thuật bảo tồn chấn thương thận kín nhân 102 trường hợp mổ tại Bệnh viện Việt Đức từ 9/2003 đến 8/2006

NCS23 - 16h15 - 11/15/2006

Hoàng Long Mục tiêu: Chấn thương thận kín chiếm khoảng 10 -12% chấn thương bụng kín. Nghiên cứu của chúng tôi nhằm mục đích xác lập các chỉ định điều trị phẫu thuật, đánh giá khả năng thực hiện và kết quả của phẫu thuật bảo tồn chấn thương thận kín. Tư liệu và phương pháp: Chúng tôi báo cáo 102 bệnh nhân chấn thương thận kín được điều trị phẫu thuật tại khoa Tiết niệu Bệnh viện Việt - Đức từ 9/2003 đến 8/2006. Chúng tôi xác lập những chỉ định phẫu thuật trên cơ sở diễn biến lâm sàng và mức độ tổn thương thận trên chụp CLVT theo phân độ của AAST, đồng thời đánh giá khả năng thực hiện và kết quả của phương pháp bảo tồn phẫu thuật những tổn thương thận. Kết quả: Chỉ định phẫu thuật chấn thương thận kín bao gồm: tổn thương thận nặng 23,5%, sốc đa chấn thương 24,5%, chấn thương bụng phối hợp 28,4%, chấn thương trên thận bệnh lý 16,7%, diễn biến lâm sàng xấu đi 6,9%. Tỷ lệ điều trị phẫu thuật là 49,2%. Phẫu thuật bảo tồn thận đạt 81,4% gồm có khâu bảo tồn 54,9%, cắt 1 phần thận 19,6%, ghép thận tự thân 2,9%. Tỷ lệ cắt thận là 18,6%. Biến chứng sau mổ là 5,9%. Kết luận: Phân độ chấn thương thận của AAST trên cơ sở chụp CLVT là yếu tố dự báo quan trọng nhất cho sự cần thiết của chỉ định phẫu thuật thận sau chấn thương. Phẫu thuật bảo tồn thận được thực hiện thành công trong 81,4%. Không có trường hợp thận bảo tồn nào phải can thiệp lại sau mổ và trong quá trình theo dõi
20 Kết quả điều trị thử nghiệm lâm sàng điều trị thiếu máu ở bệnh nhân phẫu thuật phụ khoa bằng Venfer tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội

NCS22 - 16h30 - 11/15/2006

Nguyễn Duy Ánh Thử nghiệm được tiến hành tại Khoa Phụ A5 bệnh viện Phụ sản Hà Nội với mẫu toàn bộ, là tất cả các bệnh nhân đủ điều kiện nghiên cứu trong thời gian 4 tháng 1/3/2006 – 30/6/2006. Kết quả cho thấy Venofer có hiệu quả nhanh trong việc cải thiện trên lâm sàng và cận lâm sàng trong điều trị thiếu máu. Với 4 ống Venofer làm gia tăng giá trị Hb lên 1,3 g/dl - 3,1 g/dl sau 2 tuần điều trị. Không có tác dụng phụ nào gặp phải.
21 Kết quả ban đầu điều trị cận thị ở người trưởng thành bằng phương pháp tán nguyễn thể thủy tinh đặt IOL hậu phòng

NCS23 - 16h45 - 11/15/2006

Hoàng Trần Thanh Mục đích: Đánh giá kết quả và độ an toàn của phẫu thuật tán nhuyễn thể thuỷ tinh (TTT) hay Phaco (phacoemulsification), đặt TTT nhân tạo (IOL) hậu phòng trên bệnh nhân cận thị nặng, điều trị tật khúc xạ, các biến chứng và biện pháp khắc phục. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả tiến cứu không đối chứng trên 68 mắt của 43 bệnh nhân bị cận thị nặng ≥ -6 diop (D), có hoặc không kèm theo đục TTT, thời gian theo dõi sau phẫu thuật 6 tháng. Tất cả các mắt đều được phẫu thuật bằng phương pháp phaco và đặt IOL trong bao TTT. Bệnh nhân được kiểm tra trước mổ để đánh giá mức độ và hình thái đục TTT, tình trạng võng mạc, siêu âm và điện võng mạc. Tất cả bệnh nhân được theo dõi theo định kỳ: 1 tuần, 1 tháng, 3 tháng và 6 tháng sau phẫu thuật. Kết quả: Tất cả các mắt được phẫu thuật đều an toàn, không có biến chứng gì trầm trọng. Tuổi trung bình của bệnh nhân được phẫu thuật là 55.12 (từ 26-70 tuổi), khúc xạ cầu trước mổ trung bình -15.14D, sau mổ giảm xuống còn trung bình là -1.31D (từ +0.75D đến -3D). Không có mắt nào bị viêm nội nhãn, 3 mắt phản ứng viêm màng bồ đào sau mổ, không có trường hợp nào bị tăng nhãn áp, 6 mắt có hiện tượng đục bao sau nhưng chưa phải điều trị laser, không có mắt nào bị bong võng mạc trong quá trình theo dõi. Kết kuận: Bằng phương pháp kiểm tra đánh giá kỹ lưỡng trước mổ và phẫu thuật an toàn, bệnh nhân được mổ phaco và đặt IOL hậu phòng để điều chỉnh khúc xạ do cận thị nặng, có cải thiện đáng kể về thị lực và ít biến chứng.
22 Nhận xét bước đầu hóa – xạ trị đồng thời ung thư cổ tử cung giai đoạn muộn tại Bệnh viện K

NCS24 - 17h00 - 11/15/2006

Tô Anh Dũng Mục đích: Hoá-xạ trị đồng thời cho ung thư cổ tử cung giai đoạn muộn đã được áp dụng rộng rãi. Đa số các nghiên cứu cho thấy các độc tính cấp tính và độc tính muộn có nhiều điểm khác nhau. Đối tượng và phương pháp: 30 bệnh nhân ung thư cổ tử cung đã được thực hiện hoá-xạ trị đồng thời với Cisplatin. 26 bệnh nhân được điều trị ngay từ đầu, 4 bệnh nhân nguy cơ cao được điều trị phối hợp sau phẫu thuật. Kết quả: Tất cả bệnh nhân đều hoàn thành lịch trình xạ ngoài, chỉ có một bệnh nhân không phối hợp xạ trị áp sát vì tổn thương lan âm đạo đáp ứng kém. Các độc tính cấp của hệ tạo máu hay gặp nhất là hạ bạch cầu hạt độ 2 ở 6 bệnh nhân (20%), độ 3 ở 5 bệnh nhân (16,7%). Có một bệnh nhân hạ bạch cầu đơn nhân độ 4. Một bệnh nhân hạ tiểu cầu độ 3. Các độc tính đường tiêu hoá là ỉa chảy 67%, nôn 70%. Kết luận: Kết quả sơ bộ về hoá-xạ trị đồng thời cho bệnh nhân ung thư cổ tử cung giai đoạn muộn và nguy cơ cao cho thấy mức độ độc tính cấp có thể chấp nhận. Mức độ độc tính muộn và kết quả sống thêm cần được theo dõi thêm.
23 Sử dụng lực kéo ngoài miệng (Hàm Facemask) để điều trị kém phát triển chiều trước sau xương Hàm trên qua 52 trường hợp: Chỉ định–Phương pháp–Kết quả

NCS21 - 8h00 - 11/16/2006

Nguyễn Thị Thu Phương Kém phát triển chiều trước sau xương hàm trên là bệnh gây ảnh hưởng rất nhiều đến thẩm mỹ , chức năng ,đặc biệt nó làm thay đổi cấu trúc của các tầng mặt. Sử dụng lực ngoài miệng thụng qua hàm Face mask mới được áp dụng trong những năm gần đây và việc nghiên cứu về tác dụng của khí cụ cũng như kết quả đạt được sau điều trị chưa nhiều do đó nghiên cứu này của chỳng tụi nhằm: - Xác định quy trỡnh kỹ thuật , chỉ định điều trị kém phát triển chiều trước sau xương hàm trên bằng Facemask trờn trẻ em Việt Nam. - Đánh giá kết quả phương pháp điều trị bằng hàm Facemask. Tư liệu và phương pháp: 52 bệnh nhân được điều trị từ 11/2002 đến 12.2005gồm 39 nữ và 13 nam tuổi từ 6-14 đeo hàm Face mask kéo hàm trên ra trước thông qua máng nâng khớp hàm trên và hệ thống dây chun tạo lực (300gr -450 gr cho mỗi bên hàm) Bệnh nhân được chụp phim Cephalometric trước và sau điều trị để đánh giá kết quả. Kết quả :Hàm trên được kéo ra trước và xuống dưới ( góc SNA tăng 1.01 độ ) đồng thời hạn chế một phần sự phát triến về phía trước của xương hàm dưới( góc SNB giảm 1.15 độ) .Góc ANB có giá trị dương. Kết luận : Sử dụng lực ngoài miệng thông qua hàm Facemask để điều trị kém phát triển chiều trước sau xương hàm trên đem lại kết quả tốt nếu bệnh nhân được điều trị ở giai đoạn sớm của thời kỳ thay răng sữa ( 6-8 tuổi) và thời gian đeo liên tục trong ngày 12h-16 h
24 Tán sỏi thận qua da bằng máy tán sỏi siêu âm tại Bệnh viện Việt Đức nhân 30 trường hợp

NCS22 - 8h00 - 11/16/2006

Vũ Nguyễn Khải Ca Phẫu thuật nội soi lấy sỏi thận qua da là phương pháp điều trị an toàn và hiệu quả cho các sỏi thận lớn và phức tạp. Từ tháng 6/2006 đến 9/2006 khoa tiết niệu Bệnh viện Việt Đức đã dùng máy tán sỏi siêu âm để tán sỏi qua da cho 30 bệnh nhân. chúng tôi đã thu được kết quả như sau: Tỷ lệ hết sỏi là 76% (23 bệnh nhân). Có 5 bệnh nhân được kết hợp tán sỏi ngoài cơ thể bổ xung. 2 bệnh nhân sau tán sỏi qua da chỉ cần điều trị nội khoa phối hợp. Tỷ lệ chảy máu phải truyền máu trong quá trình tán là 6 bệnh nhân (20%). Thời gian hậu phẫu từ 3  7 ngày. Đây là phương pháp mới có khả năng thay dần các phẫu thuật kinh điển trong điều trị sỏi thận.
25 Vai trò của phẫu thuật nội soi trong chẩn đoán và thái độ xử trí chấn thương bụng kín tại Bệnh viện Việt Đức từ 8/2005-7/2006

NCS23 - 8h30 - 11/16/2006

Lê Tư Hoàng Trong 1 năm từ 1/8/2005 đến 31/7/2006 đã có 417 bệnh nhân (BN) bị chấn thương bụng kín (CTBK) chưa mổ được cấp cứu điều trị tại bệnh viện Việt Đức. 273 BN được mổ (65,5%), 144BN (34,5%) được điều trị bảo tồn không mổ. Tỷ lệ tử vong là 2,6% (11 BN). 222 BN đến viện trong tình trạng đa chấn thương. Siêu âm bụng cấp cứu thực hiện cho 392 BN (94%), chụp CT bụng cấp cứu cho 217 BN (52%), chọc rửa ổ bụng tiến hành cho 22 BN. Quyết định điều trị trước mổ gồm: 153 theo dõi (144 không mổ, 9 bảo tồn chuyển mổ), 6 mở bụng thăm dò, 202 mở bụng cấp cứu, 43 phẫu thuật nội soi ổ bụng (PTNS) chẩn đoán, 14 PTNS điều trị. Đánh giá sau mổ cho thấy 23 mở bụng thăm dò (5,5%), 14 mở bụng muộn (3,4%), 179 mở bụng đúng (42,9%), 24 PTNS chẩn đoán đơn thuần (5,8%), 22 PTNS điều trị (5,3%), 11 chuyển mổ mở (2,6%); 144 theo dõi không mổ (34,5%). Tỷ lệ điều trị ngoại khoa bảo tồn tạng cũng tăng lên.
26 Bước đầu đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi điều trị sỏi đường mật chính tại Bệnh viện Việt Đức

NCS23 - 8h45 - 11/16/2006

Nguyễn Khắc Đức Các tác giả tiến hành nghiên cứu 40 bệnh nhân được phẫu thuật sỏi đường mật chính, chia làm 2 nhóm: Phẫu thuật kinh điển (PTKĐ) và phẫu thuật nội soi( PTNS). Mục đích nghiên cứu là đánh giá tình trạng đau sau mổ và các rối loạn cơ năng sau mổ ở cả 2 nhóm bệnh nhân. Trong nhóm bệnh nhân PTKĐ trong giờ đầu có 20/20 bệnh nhân luôn ở điểm đau V3, V4 và giảm dần trong các ngày tiếp theo xuống V3, V2, V1, nhưng không đạt được điểm đau Vo. Ngược lại trong nhóm PTNS có 50% bệnh nhân có diểm đau V3 và nhanh chóng đạt được điểm đau V2, V1, Vo. Tình trạng bí đái xuất hiện ở 5% số bệnh nhân PTNS và 15% số bệnh nhân PTKĐ. Thời gian vận động sớm sau mổ ở nhóm bệnh nhân PTNS là 1 ngày và 3 ngày ở nhóm PTKĐ. Không có bệnh nhân tử vong trong nghiên cứu.
27 Nghiên cứu hiệu quả của phẫu thuật cắt tuyến vú kết hợp với cắt buồng trứng theo các pha của chu kỳ kinh nguyệt trên các bệnh nhân ung thư vú còn kinh nguyệt

NCS24 - 9h00 - 11/16/2006

Nguyễn Văn Định Giới thiệu: Vai trò của các pha trong chu kỳ kinh nguyệt tại thời điểm phẫu thuật đối với sống thêm toàn bộ và sống thêm không bệnh ở bệnh nhân ung thư vú chưa mãn kinh vẫn chưa rõ ràng. Chúng tôi nghiên cứu vấn đề này trong phạm vi một thử nghiệm lâm sàng so sánh cắt tuyến vú đơn thuần với cắt tuyến vú kết hợp với cắt buồng trứng và điều trị bổ trợ tamoxifen ở những bệnh nhân ung thư vú còn kinh nguyệt ở giai đoạn còn mổ được. Phương pháp: Ngày đầu tiên của kỳ kinh cuối cùng (NĐKKCC) được sử dụng để xác định pha của chu kỳ kinh nguyệt: pha nang được xác định từ ngày 1 đến ngày 14 tính từ NĐKKCC, pha hoàng thể được xác định từ ngày 15 đến ngày 42 tính từ NĐKKCC. Sống thêm toàn bộ và sống thêm không bệnh được tính toán và phân tích bằng tỷ số nguy cơ Cox và phương pháp Kaplan-Meier với các test so sánh 2 chiều. Kết quả: Các kết quả phân tích dựa trên 565 bệnh nhân có NĐKKCC trong vòng 42 ngày trước phẫu thuật. Đối với nhóm phẫu thuật đơn thuần (n=289), không có sự khác biệt về sống thêm toàn bộ và sống thêm không bệnh theo các pha của chu kỳ kinh nguyệt. Đối với nhóm bệnh nhân có điều trị bổ trợ (n=276), những bệnh nhân được phẫu thuật ở pha hoàng thể (n=158) có sống thêm không bệnh tốt hơn (với nguy cơ tương đối [RR] là 0,54; khoảng tin cậy [CI] 95% là 0,32-0,96 ; p=0,02) và sống thêm toàn bộ tốt hơn (với RR là 0,53; 95% CI là 0,3-0,95 ; p=0,03) so với nhóm bệnh nhân được phẫu thuật ở pha nang. Hơn nữa, những bệnh nhân được phẫu thuật ở pha hoàng thể và được điều trị bổ trợ có kết quả sống 5 năm không bệnh tốt hơn so với những bệnh nhân được phẫu thuật ở pha nang ( 84%, 95% CI = 78%-90% so với 67%, 95% CI =58%-78%, p=0,02 ), và những bệnh nhân này cũng có kết quả sống thêm toàn bộ tốt hơn ( 85%, 95% CI=78%-92% so với 75%, 95% CI=66%-84%, p=0,03 ) Kết luận: Pha của chu kỳ kinh nguyệt mà tại đó phẫu thuật được tiến hành không ảnh hưởng đến kết quả sống thêm ở nhóm cắt vú đơn thuần. Tuy nhiên ở những bệnh nhân cắt vú và điều trị bổ trợ bằng cắt buồng trứng và tamoxifene thì việc cắt buồng trứng ở pha hoàng thể sẽ đưa lại kết quả tốt hơn so với cắt buồng trứng ở pha nang.
28 Kết quả bước đầu của phẫu thuật cắt thể thủy tinh, dịch kính đục do chấn thương qua PARS PLANA phối hợp đặt thể thủy tinh nhân tạo hậu phòng

NCS23 - 9h15 - 11/16/2006

Ngô Văn Thắng - Mục tiêu: Đục thể thủy tinh (TTT) và dịch kính (DK) do chấn thương thường dẫn đến hậu quả mất thị lực một cách trầm trọng. Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm đánh giá những bệnh nhân bị chấn thương (CT) đụng giập, vết thương xuyên (VTX) có hoặc không có dị vật nội nhãn (DVNN) được phẫu thuật cắt TTT - DK qua pars plana kết hợp đặt thủy tinh nhân tạo (TTTNT) hậu phòng lên phần còn lại của bao trước TTT và khe thể mi. Những yếu tố ảnh hưởng đến kết quả chức năng cuối cùng. - Phương pháp nghiên cứu: Một nghiên cứu can thiệp lâm sàng ngẫu nhiên tiến cứu gồm 30 bệnh nhân (30 mắt) bị CT đụng giập, VTX được xác nhận dựa trên kết quả về thị lực, chẩn đoán X-quang và siêu âm, tại khoa Chấn thương - bệnh viện Mắt Trung ương từ tháng 12/2005 đến tháng 8/2006. Những yếu tố được đề cập: tuổi, giới, hoàn cảnh xảy ra CT, thời gian từ lúc bị CT đến lúc được khám, những yếu tố liên quan đến kết quả thị lực. Phẫu thuật cắt TTT - DK đục qua pars plana được tiến hành ở những bệnh nhân này. Kết quả sau phẫu thuật được đánh giá dựa trên 4 tiêu chuẩn: 1- Kết quả về thị lực có hoặc không có hiệu chỉnh kính; 2- Tình trạng viêm nhiễm trong nhãn cầu; 3- Vị trí của TTTNT; 4- Tình trạng DK võng mạc. - Kết quả: Trong số 30 bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu (28 nam, 2 nữ), tuổi từ 3 - 45 (trung bình 26 tuổi). Phần lớn nguyên nhân của CT liên quan đến nghề nghiệp do không đeo kính bảo vệ trong lúc làm việc. VTX gặp nhiều hơn CT đụng giập (28/30 so với 2/30 trường hợp). Tổn thương rách giác mạc thường gặp hơn (73,3%) trong khi đó rách củng mạc hiếm gặp hơn (3,3%), tổn thương rách giác củng mạc có cao hơn (22,7%). VTX có DVNN chiếm 50% các trường hợp, tỷ lệ mất tế bào nội mô trung bình do CT là 20,6%. Kết quả thị lực sau mổ  0,05 đạt 56,6%, TTTNT nằm đúng vị trí giải phẫu 56,6%. Một số biến chứng gặp sau mổ như: viêm màng bồ đào (16,7%), bong võng mạc (16,7%), xuất huyết nội nhãn (13,3%), viêm mủ nội nhãn (3,3%), teo nhãn cầu (6,6%). - Kết luận: Đặt TTTNT ở cùng thời điểm cắt TTT và DK qua pars plana cho phép phục hồi lại thị lực cũng như chức năng thị giác hai mắt một cách nhanh chóng. Tuy nhiên cần phải nghiên cứu với số lượng nhiều hơn nữa cũng như thời gian theo dõi dài hơn mới có thể đưa ra những kết luận cuối cùng.
29 Cắt một phần Thanh quản – Hạ họng có tạo hình trong điều trị các khối u vùng Thanh quản – Hạ họng

NCS21 - 9h30 - 11/16/2006

Ngô Văn Thắng Cắt một phần thanh quản trên nhẫn có tạo hình kiểu Nhẫn- Móng- Thanh thiệt là một kỹ thuật mới cắt gần toàn bộ thanh quản.Kỹ thuật này áp dụng không chỉ cho những khối u giai đoạn T1, T2 mà còn cho một số T3, T4 của ung thư thanh quản. 86 Bệnh nhân được mổ và theo rõi từ 1994- 1998 tại viện Croix Rousse, Lyon CH Pháp. Kết quả ung thư học và kết quả về mặt chức năng so sánh với phương pháp cũ của các tác giả khác .Nhóm bệnh nhân trẻ và bệnh nhân già được so sánh theo phương pháp thống kê. Kết quả về mặt bệnh học ung thư không khác so với các tác giả khác. Thời gian mang xông và thời gian nằm viện của chúng tôi ngắn. Không có sự khác biệt giữa hai nhóm bệnh nhân trẻ và già. Phương pháp cắt một phần thanh quản trên nhẫn có tạo hình kiểu Nhẫn- Móng- Thanh thiệt là phương pháp điều trị thích hợp cho ung thư thanh quản ở nhiều giai đoạn khác nhau và áp dụng cho cả người có tuổi.
30 Đặc điểm lâm sàng bệnh Kawasaki ở trẻ em

NCS24 - 9h15 - 11/15/2006

Đặng Thị Hải Vân Nghiên cứu mô tả tiến cứu trên 77 bệnh nhân Kawasaki (có 50 bệnh nhân chẩn đoán sớm trước 10 ngày và 27 bệnh nhân chẩn đoán muộn từ ngày thứ 10) được điều trị tại bệnh viện nhi Trung ương (TƯ) từ 6/2004 đến 6/2006 chúng tôi nhận thấy: tuổi trung bình là 13,4 tháng, trong đó tỷ lệ trẻ dưới 12 tháng tuổi là 61%. Tỷ lệ nam: nữ là1,7:1. Có 64,9% được chẩn đoán trước 10 ngày. Các biểu hiện lâm sàng đặc trưng cho bệnh như (sốt, môi đỏ, mắt đỏ, phát ban, phù nề mu bàn tay, bàn chân, viêm hạch cổ) thường xuất hiện sớm trong tuần đầu.Ở nhóm chẩn đoán muộn các biểu hiện này thường xuất hiện rải rác gây khó khăn cho chẩn đoán. Phản ứng viêm rất mạnh (CRP là 83,6mg/l: số lượng bạch cầu: 27800/ , tốc độ máu lắng sau 1 giờ 79,1mm). Có 41,1% bệnh nhân có tiểu cầu tăng trên 500.000/ . Có sự khác biệt giữa 2 nhóm nghiên cứu về mức độ tăng tiểu cầu. Tổn thương ĐMV là 29,8%. Nhóm chẩn đoán muộn có tỷ lệ phình giãn ĐMV cao hơn nhóm chẩn đoán sớm.
31 Bước đầu nghiên cứu sự thay đổi một số chỉ số lâm sàng và cận lâm sàng ở bệnh nhân phì đại lành tính tuyến tiền liệt được điều trị bằng bài thuốc Tiền liệt thanh giải

NCS23 - 9h30 - 11/15/2006

Nguyễn Thị Tân Mục tiêu: Đánh giá sự thay đổi một số chỉ số lâm sàng và cận lâm sàng trên bệnh nhân PĐLTTTL được điều trị bằng bài thuốc tiền liệt thanh giải. Đối tượng và phương pháp: 23 bệnh nhân được chẩn đoán PĐLTTTL vào điều trị tại Khoa Y học cổ truyền Bệnh viện trung ương Huế bằng thuốc tiền liệt thanh giải trong 2 tháng. Kết quả: có sự thay đổi đáng kể các chỉ số lâm sàng và cận lâm sàng ở nhóm nghiên cứu. Điểm IPSS giảm từ 24,13 xuống còn 3,21. Điểm chất lượng cuộc sống trung bình và nặng giảm từ 100% xuống còn 4,3 %. Thể tích nước tiểu tồn dư giảm từ 45,37ml xuống còn 4,65ml. Thể tích tuyến tiền liệt trung bình giảm từ 36,82 còn 28,01. Kết luận: Bài thuốc tiền liệt thanh giải có tác dụng điều trị rối loạn tiểu tiện ở bệnh nhân PĐLTTTL với kết quả khá và tốt đạt 95,7%.
32 Đặc điểm lâm sàng và tìm hiểu các yếu tố liên quan trong bệnh rối loạn trầm cảm tuổi vị thành niên

NCS23 - 9h45 - 11/15/2006

Cao Vũ Hùng Mục đích: Mô tả đặc điểm lâm sàng và tìm hiểu một số yếu tố liên quan của rối loạn trầm cảm tuổi vị thành niên. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang. Gồm 40 trẻ từ 10 đến 17 tuổi được chẩn đoán rối loạn trầm cảm và điều trị tại khoa Tâm thần – Bệnh viện Nhi Trung ương từ tháng 9/2004 – 8/2006. Kết quả: - Tuổi trung bình là 14,08±1,39, tỷ lệ nữ/nam là 1,86/1. - 57,5% trầm cảm mức độ trung bình và 30% trầm cảm nặng. Các triệu chứng đặc trưng của trầm cảm chiếm tỷ lệ cao (>92,5%), các triệu chứng phổ biến thường gặp là giảm tập trung chú ý (95%), rối loạn giấc ngủ (92,5%), rối loạn ăn (85%), giảm tự tin (82,5%). Đặc biệt có 72,5% có ý tưởng và hành vi tự sát. Tăng hoặc giảm cân là triệu chứng ít gặp (25%). Thường kèm theo các rối loạn khác như rối loạn quan hệ xã hội, rối loạn lo âu và rối loạn dạng cơ thể chiếm tỷ lệ cao trên 60%. - Trong số 40 trường hợp, 37,5% trong gia đình thường xuyên có các xung đột; 12,5% có bố mẹ ly dị hoặc ly thân; 57,5% được xác định là có các biến cố xẩy ra với trẻ và 27,5% trong gia đình có tiền sử mắc các bệnh tâm thần.
33 Tình hình chẩn đoán và điều trị bệnh cho phụ nữ tuổi tiền mãn kinh tại Bệnh viện Y học cổ truyền Hà Nội

NCS23 - 10h00 - 11/15/2006

Đỗ Minh Hiền Qua nghiên cứu đề tài chúng tôi có một số kết luận sau: 1. Chẩn đoán và điều trị những rối loạn của phụ nữ lứa tuổi tiền mãn kinh: Tuổi trung bình của phụ nữ tiền mãn kinh đến điều trị là 47,4+4,2; 33.3% bệnh nhân mắc các bệnh về viêm sinh dục; 25.8% bệnh nhân mắc các bệnh về rong kinh rong huyết; 13.6% bệnh nhân mắc các bệnh về u bướu; 27,3% bệnh nhân mắc các bệnh về đau xương khớp. Các thể bệnh chính vào điều trị: Thể Tâm Tỳ hư chiếm 39.4%; Thận âm hư 50%; thể đàm thấp 10.6%.- Bài thuốc được áp dụng điều trị: 53% bài lục vị gia giảm, 47% dùng bài Quy tỳ gia giảm. Kết quả điều trị: loại tốt 37.9%; loại khá 53%; loại đạt 9.1%. 2. Tỷ lệ phụ nữ ở thời kỳ tiền mãn kinh đến điều trị tại bệnh viện là 28.2% trong một năm.
34 Nghiên cứu ảnh hưởng của điện châm kết hợp thuốc hỗ trợ lên hàm lượng β - Endorphin máu trong phẫu thuật bệnh bướu giáp lan tỏa nhiễm độc.

NCS23 - 10h00 - 11/15/2006

Trần Phương Đông 30 bệnh nhân bướu giáp lan toả nhiễm độc có chỉ định phẫu thuật dưới phương pháp vô cảm bằng điện châm các cặp huyệt Hợp cốc, Nội quan, ế phong, Khuyết bồn, Thuỷ đột kết hợp thuốc hỗ trợ Seduxen (0,2mg/kg thể trọng), Atropin sulphát (0,05mg/kg thể trọng). Các chỉ số được nghiên cứu đó là hàm lượng -endorphin máu, ngưỡng cảm giác đau, mức vô cảm trên lâm sàng. Kết quả thu được như sau: 1.Hàm lượng β-endorphin trong máu tăng rõ rệt (p<0,001) sau khi điện châm kết hợp thuốc hỗ trợ. 2.Ngưỡng cảm giác đau tăng lên rõ rệt (p<0,001) sau khi điện châm kết hợp thuốc hỗ trợ. Có sự tương quan thuận chặt chẽ giữa mức tăng ngưỡng cảm giác đau và mức tăng hàm lượng β-endorphin trong máu. 3.Kết quả vô cảm trên lâm sàng đạt loại A (93,3%), B (6,7%) không có loại C, D.
35 Mật độ xương ở bệnh nhân nam trẻ tuổi trong bệnh viêm cột sống dính khớp

NCS23 - 10h30 - 11/15/2006

Mai Thị Minh Tâm Viêm cột sống dính khớp (VCSDK) là một bệnh thấp viêm mạn tính, bệnh gặp chủ yếu ở nam giới trẻ tuổi và liên quan đến kháng nguyên HLA-B27 trong 90% trường hợp. Bệnh đứng thứ hai sau viêm khớp dạng thấp. Nguy cơ của bệnh là dính khớp , dính cột sống, tạo tư thế xấu và đôi khi gây gãy xương. Khoảng 1/3 số bệnh nhân có biểu hiện giảm mật độ xương hoặc loãng xương ngay từ khi mới mắc bệnh. Sự mất xương ở viêm cột sống dính khớp do nhiều yếu tố tác động. Gồm 45 bệnh nhân nam viêm cột sống dính khớp được chẩn đoán theo tiêu chuẩn New York sửa đổi năm 1984 và so sánh nhóm chứng, kết quả cho thấy mật độ xương giảm ở cột sống thắt lưng và cổ xương đùi ở VCSDK với p < 0,001.
36 Nghiên cứu các giá trị của niệu bào đồ và các phương pháp hiện có trong chẩn đoán dậy thì của trẻ gái

NCS24 - 10h45 - 11/15/2006

Hoàng Thị Thủy Yên Nghiên cứu 115 trẻ gái có cùng tuổi trung bình 11 tuổi 3 tháng, (sinh 1994) tại Huế, có biểu hiện các giai đoạn dậy thì, phân tích các dữ kiện lâm sàng: chiều cao, cân nặng, giai đoạn dậy thì, niệu bào đồ, và so sánh với các phương pháp thăm dò hiện có. Kết quả cho thấy niệu bào đồ có các biến đổi trong tiến trình dậy thì và tương quan chặt chẽ với các phương pháp chẩn đoán hiện có. Do đó, có thể sử dụng niệu bào đồ để chẩn đoán dậy thì. Trẻ gái có phát triển tuyến vú, có hay chưa có các dấu hiệu dậy thì khác, với niệu bào đồ dạng kích thích có IK>4, IE>3, S>4, được chẩn đoán dậy thì.
37 Đặc điếm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân lao phổi tái phát và lao phổi thất bại

NCS22 - 11h00 - 11/15/2006

Hoàng Hà Tên thuốc viết tắt: isoniazid (H); streptomycin (S); rifampicin (R); ethambutol (E); pyrazinamid (Z); thiacetazon (THI); ethionamid (ETH); kanamycin (KNM); ofloxacin (OFL); cycloserin (CYC); p-aminosalicylic acid (PAS) Tiến hành nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân lao phổi tái phát (LPTP) và lao phổi thất bại (LPTB) nhằm nâng cao chất lượng phát hiện, điều trị và dự phòng các bệnh này. Các tác giả sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang, so sánh chùm bệnh. Tất cả bệnh nhân nghiên cứu đều được khám lâm sàng, chụp X-quang phổi chuẩn, thử phản ứng mantoux, xét nghiệm soi đờm trực tiếp, nuôi cấy vi khuẩn lao và làm kháng sinh đồ. Kết quả: 175 bệnh nhân nghiên cứu bao gồm 108 LPTP và 87 LPTB. So sánh triệu chứng lâm sàng giữa 2 nhóm cho thấy: Tuổi trung bình của bệnh nhân ở nhóm LPTP cao hơn (55,1±15,2 so với 44,1±14,0); Tiền sử uống thuốc không đều ở nhóm LPTB nhiều hơn (53,7% so với 13,9%); Triệu chứng ho ra máu, sốt cao ở nhóm LPTB cũng có tỷ lệ cao hơn lần lượt là (37,3%; 17,9% so với 19,4%; 5,6%). So sánh triệu chứng cận lâm sàng giữa 2 nhóm cho thấy: Tổn thương hang, tổn thương hang xơ và tổn thương phổi rộng (cả vùng thấp và vùng cao) ở nhóm LPTB cao hơn, lần lượt là (73,1%; 59,7%; 77,6% so với 53,7%;38,9%; 57,4%); Kết quả AFB (+++) ở nhóm LPTB nhiều hơn (32,8% so với 19,4%); Bệnh lao đa kháng thuốc ở nhóm LPTB chiếm tỷ lệ cao hơn (76,1% so với 21,3%); Vi khuẩn lao đơn kháng isoniazid, streptomycin, rifampicin và ethambutol ở nhóm LPTB cũng cao hơn, lần lượt là (92,5%; 89,6%; 79,1%; 55,2% so với 73,1%; 72,2%; 26,9%; 12,0%). Kết luận: Bệnh nhân lao phổi thất bại có tình trạng bệnh lý nặng hơn bệnh nhân lao phổi tái phát.
38 Đánh giá bước đầu về đặc điểm lâm sàng rối loạn nhận thức ở bệnh nhân sau nhồi máu não trên 60 tuổi

NCS24 - 11h15 - 11/15/2006

Nguyễn Thanh Vân 30 bệnh nhân nhồi máu não lần đầu trên 60 tuổi tại bệnh viện Hữu nghị và 30 bệnh nhân nhóm chứng (2 nhóm bệnh nhân này có các tiêu chuẩn chọn và loại trừ riêng) được làm các trắc nghiệm thần kinh tâm lý (sau nhồi máu từ 3 tuần đến 12 tuần) để đánh giá một số lĩnh vực của chức năng nhận thức. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Chức năng nhận thức tổng quát của nhóm bệnh nhân nhồi máu não giảm một cách có ý nghĩa so với nhóm chứng. Có sự suy giảm trí nhớ rõ rệt có ý nghĩa thống kê của nhóm bệnh so với nhóm chứng. Các chức năng: chức năng chú ý, chức năng thị giác không gian, chức năng thực hiện nhiệm vụ của nhóm bệnh đều giảm một cách có ý nghĩa so với nhóm chứng. Chức năng ngôn ngữ ở nhóm bệnh có bị ảnh hưởng song giảm không nhiều so với các chức năng khác. Tỉ lệ sa sút trí tuệ sau nhồi máu não là 12,3%, tỉ lệ suy giảm nhận thức nhẹ sau nhồi máu não là 47%.
39 Nghiên cứu lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân tràn dịch màng phổi do lao có xét nghiệm HIV(+) tại Hải Phòng (2003-2006)

NCS24 - 13h30 - 11/15/2006

Nguyễn Huy Điện Qua nghiên cứu 29 bệnh nhân TDMP do lao/HIV(+) có xét nghiệm tìm thấy vi khuẩn lao trong dịch màng phổi tại Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Hải Phòng 1/2003 - 8/2006 chúng tôi rút ra một số kết luận sau: * Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng. • Tuổi, giới: Chúng tôi gặp 100% nam tuổi chủ yếu 20 - 34. Trong khi bệnh nhân TDMP do lao/HIV(-) nam 60% và gặp ở mọi lứa tuổi, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. • Nghề nghiệp: Lao động tự do 34,5%, công nhân 34,5%, không nghề nghiệp 13,8%, phạm nhân 7,5%… và có xu hướng đa dạng hơn tr¬ước. • Nguy cơ lây nhiễm HIV: Nhóm TDMP do lao/HIV(+) chủ yếu là chích ma tuý 79,3%, quan hệ mại dâm 13,7%, tiêm chích ma tuý vừa quan hệ mại dâm 3,5%, còn lại 3,5% không rõ nguy cơ lây nhiễm. • Dấu hiệu lâm sàng gặp ở nhóm TDMP do lao/HIV(+) mà ít gặp ở nhóm TDMP do lao/HIV(-) là sụt cân >10% trọng lượng cơ thể, mồ hôi trộm, nổi hạch ngoại vi, viêm da, tiêu chảy-lỵ, nấm miệng. • Dấu hiệu lâm sàng ở nhóm TDMP do lao/HIV(+) khác với nhóm TDMP do lao/HIV(-) là: Màu sắc đa dạng: vàng chanh, vàng sẫm , màu hồng, mủ trắng . Đa số hết dịch sau 4 tuần . • Phản ứng Mantoux:NhómTDMP do lao/HIV(+) phản ứng Mantoux âm tính tỷ lệ cao 65,5%. • Xét nghiệm vi sinh dịch màng phổi ở bệnh TDMP do lao/HIV(+). Bằng các kỹ thuật PCR và cấy MGIT cho kết quả vi sinh cao hơn soi trực tiếp và cấy cổ điển. Nếu phối hợp cả 4 phương pháp tìm vi khuẩn lao trong dịch màng phổi nhóm TDMP do lao/HIV(+) cho kết quả cao hơn nhóm TDMP do lao/HIV(-) có ý nghĩa thống kê với p < 0,0001.
40 Đánh giá kết quả bít lỗ thông liên nhĩ qua da bằng dụng cụ Amplatzer trên bệnh nhân Việt Nam

NCS23 - 13h45 - 11/15/2006

Nguyễn Lân Hiếu
41 Bước đầu nghiên cứu sự biến đổi của Lympho TCD4(+) và TCD8(+) trên bệnh nhân mày đay dị ứng mạn tính được điều trị bằng Quế chi thang gia vị

NCS21 - 14h00 - 11/15/2006

Hoàng Hữu Hảo Kết quả nghiên cứu bước đầu trên bệnh nhân mày đay dị ứng mạn tính được điều trị bằng Quế chi thang gia vị (chè tan QCT) cho thấy: + Có sự bất thường về số lượng TCD4(+) (giảm), TCD8(+) (tăng) và tỷ lệ TCD4(+)/TCD8(+) (giảm) so với người bình thường không có biểu hiện dị ứng. + So với thời điểm ban đầu, sau 4 tuần điều trị bằng chè tan QCT số lượng TCD4(+) tăng lên (p<0,01), số lượng TCD8(+) giảm đi (p>0,05), tỷ lệ TCD4(+)/TCD8(+) tăng lên (p<0,01) trong máu ngoại vi. + Tương quan giữa sự thay đổi của TCD4(+) và TCD8(+) là mối tương quan tuyến tính nghịch biến chặt chẽ, R2 = 0,648. Đây là kết quả nghiên cứu ban đầu về tình trạng các tế bào dòng lympho TCD4(+) và TCD8(+) ở những bệnh nhân có tình trạng dị ứng mạn tính. Cần có những nghiên cứu tiếp theo để kiểm định kết quả này.
42 Ảnh hưởng của Hải mã - Nhân sâm lên quá trình hồi phục hình thái – chức năng tinh hoàn chuột cống trắng

NCS22 - 14h15 - 11/15/2006

Đậu Xuân Cảnh Chỉ số Tei, một thông số siêu âm Doppler tim, được tính bằng tỷ lệ giữa tổng của thời gian giãn đồng thể tích và thời gian co đồng thể tích so với thời gian tống máu là một thông số biểu hiện chức năng toàn bộ thất trái bao gồm cả chức năng tâm thu và chức năng tâm trương. Ở các bn NMCT cấp, chức năng thất trái là một yếu tố quan trọng giúp tiên lượng và theo dõi bệnh. Chúng tôi nghiên cứu trên 124 bn NMCT cấp và 51 người bình thường cùng tuổi cùng giới. Tất cả các bệnh nhân đều được làm điện tâm đồ 12 chuyển đạo, làm siêu âm Doppler tim màu trước khi chụp ĐMV. Tất cả các bệnh nhân đều được chụp động mạch vành. 52 bệnh nhân được đo áp lực cuối tâm trương thất trái. 31 bệnh nhân được chụp buồng thất trái có thuốc cản quang. 102 bệnh nhân được nong và đặt stent ĐMV, tất cả các bệnh nhân này đều được làm siêu âm tim sau can thiệp ĐMV 24h và sau 6 tháng. Nghiên cứu cho thấy: - Có mối tương quan tuyến tính chặt chẽ giữa chỉ số Tei với phân số tống máu đo bằng phương pháp chụp buồng thất trái có chất cản quang (r = - 0,84) và giữa chỉ số Tei với áp lực cuối tâm trương thất trái đo bằng phương pháp thông tim (r= 0,81). - Có mối liên quan chặt chẽ giữa chỉ số Tei với hiệu quả can thiệp ĐMV được đánh giá bằng mức độ tái thông lòng mạch TIMI ở các bệnh nhân NMCT trước vách cấp: Chỉ số Tei ở nhóm bn có TIMI 0-2 lớn hơn rõ rệt so với nhóm có TIMI 3 sau can thiệp (0,64 ± 0,13 so với 0,53 ± 0,07; p<0,001). Chỉ số Tei cao đi kèm với sự kém tái tưới máu sau can thiệp ĐMV. - Về giá trị tiên lượng của chỉ số Tei ở các bệnh nhân NMCT cấp sau can thiệp ĐMV: Ở các bệnh nhân tử vong hoặc suy tim ứ huyết, chỉ số Tei cao hơn rõ rệt so với ở các bệnh nhân còn sống không có suy tim ứ huyết (p < 0,01). Phương pháp phân tích đa biến cho thấy chỉ số Tei (χ2= 4,2, p<0,01), thời gian giảm tốc sóng E (χ2 =3,4, p<0,05), và tuổi (χ2= 1,04, p < 0,05) là các yếu tố tiên lượng độc lập đối với tử vong và sự tiến triển thành suy tim ứ huyết sau NMCT. Chỉ số Tei phản ánh mức độ rối loạn chức năng thất trái và rất có giá trị tiên lượng ở các bệnh nhân NMCT cấp sau can thiệp ĐMV
43 Giá trị của chỉ số Tei (Tei-Index) ở các bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp trước và sau can thiệp động mạch vành

NCS23 - 14h30 - 11/15/2006

Nguyễn Thị Thu Hoài
44 Nghiên cứu tác dụng của bài thuốc “Tứ thần hoàn” trong điều trị hội chứng ruột kích thích thể lỏng

NCS22 - 14h45 - 11/15/2006

Nguyễn Thị Tuyết Nga “Tứ thần hoàn” là một bài thuốc cổ (gồm Phá cố chỉ, Nhục đậu khấu, Ngô thù du, Ngũ vị tử, Sinh khương, Đại táo) để điều trị những chứng bệnh của y học cổ truyền có sự tương đồng với hội chứng ruột kích thích thể lỏng của y học hiện đại. Mục tiêu:(1) Đánh giá tác dụng của bài thuốc với các triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân hội chứng ruột kích thích thể lỏng có đối chứng với Mebevarin (Duspatalin); (2) Đánh giá tác dụng phụ của thuốc trên bệnh nhân hội chứng ruột kích thích thể lỏng. Đối tượng nghiên cứu: 162 bệnh nhân được chẩn đoán là hội chứng ruột kích thích thể lỏng, được chia làm 2 nhóm, nhóm đối chứng 77 bệnh nhân, nhóm nghiên cứu 85 bệnh nhân, được điều trị ngoại trú tại Khoa Khám bệnh - Bệnh viện Bạch Mai, từ tháng 3/2005 đến tháng 8/2005. Phương pháp nghiên cứu: Thử nghiệm lâm sàng, có đối chứng, theo dõi dọc. Kết quả: 80% bệnh nhân hết đại tiện lỏng; 82,4% bệnh nhân có số lần đại tiện trở về bình thường; 93,6% bệnh nhân hết đại tiện phân nhày; 76,5% hết đau bụng. Hiệu quả điều trị tốt đạt 61,2% (p < 0,05). Kết luận: Tứ thần hoàn có hiệu quả điều trị tốt với các triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân hội chứng ruột kích thích thể lỏng. Không có bệnh nhân nào phải ngừng dùng thuốc vì tác dụng phụ. Từ khoá: Tứ thần hoàn; hội chứng ruột kích thích.
45 Đối chiếu lâm sàng và xét nghiệm miễn dịch huỳnh quang của một số bệnh da bọng nước tự miễn

NCS23 - 15h45 - 11/15/2006

Trần Ngọc Ánh Nhóm bệnh nhân da bọng nước tự miễn (BDBNTM) báo gồm nhiều loại bệnh khác nhau nhưng có nhiều trùng lắp về lâm sàng, mô bệnh học. Các xét nghiệm miễn dịch huỳnh quang trực tiếp (MDHQTT) và miễn dịch huỳnh quang gián tiếp (MDHQGT) góp phần nghiên cứu cơ chế bệnh sinh và có giá trị trong chẩn đoán bệnh. Qua khảo sát 120 trường hợp BDBNTM, chúng tôi nhận thấy Pemphigus chiếm tần suất cao nhất (49,17%). Bệnh tập trung chủ yếu ở nhóm tuổi 31 – 60, chiếm 58.5%. Tỷ lệ Nam/Nữ là 2/3. Đặc điểm lâm sàng của BDBNTM: Trong Dermatitis Herpetiformis (DH) và Pemphigoid (BP) bọng nước căng. Trong nhóm bệnh Pemphigus (P) thì 3/4 trường hợp bọng nước có mật độ chùng, chỉ có khoảng 1/4 trường hợp bọng nước căng. Hầu hết bọng nước có kích thước nhỏ và trung bình chiếm 3/4 tổng số trường hợp, không có sự khác nhau trong từng thể bệnh. Hầu hết các thể bệnh đều có tổn thương màng niêm, trong đó LAD được ghi nhận không có tổn thương màng niêm. Chỉ có phân nửa trường hợp P có dấu Nikolsky dương, trong nhóm BP thì 35% có dấu Nikolsky dương tính. Vì vậy độ nhạy và độ đặc hiệu của dấu Nikolsky trong chẩn đoán BDBNTM thấp. Mối liên quan giữa lâm sàng và xét nghiệm MDHQTT/MDHQGT: Trong Pemphigus MDHQTT dương tính liên bào 96%, MDHQGT dương tính liên bào 94.5%. Trong BP, MDHQTT/MDHQGT dương tính màng đáy 22/23 trường hợp. Trong DH thì MDHQTT và MDHQGT dương tính lần lượt là 64% và 74%, trong đó kháng thể kháng màng đáy dạng hạt chỉ gặp trong DH. Có 6 trường hợp xét nghiệm miễn dịch âm tính nhưng xét nghiệm mô bệnh học phù hợp với chẩn đoán lâm sàng là BDBNTM. Không có mối liên quan giữa mức độ nặng của bệnh và hiệu giá của kháng thể trong MDHQGT.
46 Đối chiếu lâm sàng và xét nghiệm miễn dịch huỳnh quang của một số bệnh da bọng nước tự miễn

NCS23 - 15h45 - 11/15/2006

Trần Ngọc Ánh Nhóm bệnh nhân da bọng nước tự miễn (BDBNTM) báo gồm nhiều loại bệnh khác nhau nhưng có nhiều trùng lắp về lâm sàng, mô bệnh học. Các xét nghiệm miễn dịch huỳnh quang trực tiếp (MDHQTT) và miễn dịch huỳnh quang gián tiếp (MDHQGT) góp phần nghiên cứu cơ chế bệnh sinh và có giá trị trong chẩn đoán bệnh. Qua khảo sát 120 trường hợp BDBNTM, chúng tôi nhận thấy Pemphigus chiếm tần suất cao nhất (49,17%). Bệnh tập trung chủ yếu ở nhóm tuổi 31 – 60, chiếm 58.5%. Tỷ lệ Nam/Nữ là 2/3. Đặc điểm lâm sàng của BDBNTM: Trong Dermatitis Herpetiformis (DH) và Pemphigoid (BP) bọng nước căng. Trong nhóm bệnh Pemphigus (P) thì 3/4 trường hợp bọng nước có mật độ chùng, chỉ có khoảng 1/4 trường hợp bọng nước căng. Hầu hết bọng nước có kích thước nhỏ và trung bình chiếm 3/4 tổng số trường hợp, không có sự khác nhau trong từng thể bệnh. Hầu hết các thể bệnh đều có tổn thương màng niêm, trong đó LAD được ghi nhận không có tổn thương màng niêm. Chỉ có phân nửa trường hợp P có dấu Nikolsky dương, trong nhóm BP thì 35% có dấu Nikolsky dương tính. Vì vậy độ nhạy và độ đặc hiệu của dấu Nikolsky trong chẩn đoán BDBNTM thấp. Mối liên quan giữa lâm sàng và xét nghiệm MDHQTT/MDHQGT: Trong Pemphigus MDHQTT dương tính liên bào 96%, MDHQGT dương tính liên bào 94.5%. Trong BP, MDHQTT/MDHQGT dương tính màng đáy 22/23 trường hợp. Trong DH thì MDHQTT và MDHQGT dương tính lần lượt là 64% và 74%, trong đó kháng thể kháng màng đáy dạng hạt chỉ gặp trong DH. Có 6 trường hợp xét nghiệm miễn dịch âm tính nhưng xét nghiệm mô bệnh học phù hợp với chẩn đoán lâm sàng là BDBNTM. Không có mối liên quan giữa mức độ nặng của bệnh và hiệu giá của kháng thể trong MDHQGT.
47 Kết quả điều trị u nguyên bào thần kinh ở trẻ em tại khoa ung bướu, Bệnh viện Nhi Trung ương từ 2002-2006

- 16h00 - 11/15/2006

Phùng Tuyết Lan 48 bệnh nhân được chẩn đoán có u NBTK và được điều trị theo phác đồ lựa chọn tại khoa Ung bướu Bệnh viện Nhi từ 1/2002 đến 9/2006. Các bệnh nhân này được phân loại theo giai đoạn (I: 3 bệnh nhân; II: 6 bệnh nhân; III: 17 bệnh nhân; IV: 18 bệnh nhân; IVs: 4 bệnh nhân) và theo vị trí u (bụng: 37 bệnh nhân; ngực:7 bệnh nhân; cổ: 3 bệnh nhân; ngực- bụng: 2 bệnh nhân). Phác đồ điều trị dựa trên các yếu tố tuổi, giai đoạn, LDH, mô bệnh học chia thành các nhóm nguy cơ. Kết quả: Tỷ lệ sống không bệnh sau 2 năm là 34,1%. Tỷ lệ này khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm nguy cơ: 87,5% ở nhóm nguy cơ thấp; 66,61% ở nhóm nguy cơ trung bình và 13,79% ở nhóm nguy cơ cao. Các yếu tố tiên lượng nhận thấy là LDH, mô bệnh học,vị trí u.
48 Đánh giá hiệu quả việc chăm sóc sơ sinh theo mô hình kết hợp Sản – Nhi tại khoa sản Bệnh viện trường Đại học Y Huế

NCS23 - 16h15 - 11/15/2006

Nguyễn Thị Kiều Nhi Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả việc chăm sóc sơ sinh theo mô hình kết hợp sản – nhi ở khoa sản Bệnh viện Đại học y Huế bằng cách chứng minh tính tương đương về tỷ lệ các loại sơ sinh, các bệnh tật của nhóm chứng (khoa sản bệnh viện trung ương Huế) với nhóm can thiệp (khoa sản bệnh viện đại học Y Huế) và phân tích tỷ suất tử vong ở 2 nhóm nghiên cứu. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả phân tích số liệu ở trẻ sơ sinh sống > 25 tuần thai tại Khoa sản bệnh viện Huế (4700 sơ sinh sống/2003) và tại khoa sản bệnh viện đại học y Huế (1785/ 2003 -2005). Những biện pháp can thiệp thực hiện bởi khoa nhi trên trẻ sơ sinh từ khi cắt rốn tại khoa sản bệnh viện đại học y Huế theo vòng khép kín : hồi sức tức thì sau sinh, điều trị nối tiếp, chuyển nhi sơ sinh, được đánh giá hiệu quả qua tỷ suất tử vong giảm đặc biệt ở nhóm trẻ sơ sinh nguy cơ: đẻ non < 33 tuần, cân nặng thấp ≤ 1500 grs, già tháng > 42 tuần. Kết quả: tỷ suất tử vong chỉ 5,04‰ ở khoa sản bệnh viện đại học y Huế . Tỷ suất tử vong sơ sinh đẻ non < 33 tuần 272,22 ‰, sơ sinh đủ tháng suy dinh dưỡng bào thai cân nặng < 1500grs: 28,57‰, sơ sinh già tháng: 17,85‰. Tỷ suất tử vong theo các bệnh: Suy hô hấp không do nhiễm trùng (4,87%), Dị tật bẩm sinh (26,31%), ngạt (1,35%), nhiễm trùng sơ sinh sớm (0,76%). Kết luận: Tỷ lệ các loại sơ sinh nguy cơ và bệnh tật giai đoạn sơ sinh sớm tương đương nhau giữa nhóm chứng và nhóm can thiệp. Bằng những can thiệp trong chăm sóc sơ sinh từ khi cắt rốn theo mô hình kết hợp sản nhi đã có thể hạ thấp được tỷ lệ tử vong đặt biệt trên các loại sơ sinh đẻ non < 33 tuần, cân nặng thấp < 1500 grs, già tháng > 42 tuần.
49 Đặc điểm lâm sàng và thương tật thứ cấp ở bệnh nhân liệt hai chi dưới do chấn thương tủy sống

NCS22 - 16h30 - 11/15/2006

Cầm Bá Thức Chúng tôi tìm hiểu các dấu hiệu lâm sàng thường gặp và các biến chứng ở 29 bệnh nhân liệt hai chi dưới do chấn thương tuỷ sống bao gồm 21 nam và 08 nữ tuổi từ 14 đến 63 với độ tuổi trung bình là 39,5 tuổi, kết quả như sau: Trong số bệnh nhân trên có 68.08% bị tổn thương tuỷ do tai nạn lao động, 20.68% do tai nạn giao thông, 17.24% do tai nạn sinh hoạt. Về phân loại tổn thương tuỷ theo hiệp hội tuỷ sống Mỹ ASIA có 48.29% là độ A; 20.68% là độ B; 17,24% là độ C; chỉ có 13,79% là độ D. Có 03 bệnh nhân có hội chứng thần kinh đặc biệt (một bệnh nhân bị hội chứng nón tuỷ, hai bệnh nhân bị hội chứng nón tuỷ); 100% bệnh nhân bị teo cơ hai chi dưới; 44,82% bị loét điểm tỳ; 41,28% số bệnh nhân có biểu hiện đau thần kinh mạn tính; 31,03% bị nhiễm trùng tiết niệu; 20.68% bị cứng khớp hai chi dưới. Không có bệnh nhân nào bị viêm phổi hay viêm tắc tĩnh mạch sâu.
50 Kích thước tiểu não và mối liên quan với tuổi thai của thai nhi sau 14 tuần

NCS22 - 16h45 - 11/15/2006

Lưu Thị Hồng Siêu âm đo đường kính ngang của tiểu não của 950 thai phụ có chu kỳ kinh nguyệt đều từ 28 – 30 ngày, ở tuổi thai từ 14 tuần, chúng tôi nhận thấy có mối liên quan giữa kích thước ngang của tiểu não với tuổi thai theo đường biểu diễn Y = 0,6998x + 6,0449 với R2 = 0,9343. Đo kích thước ngang của tiểu não thực hiện dễ dàng đối với tuổi thai ở 3 tháng giữa của thai kỳ. Với kết quả này, các thai phụ không nhớ rõ ngày đầu của kỳ kinh cuối hay có vòng kinh kéo dài có thể dự kiến được ngày sinh.
51 So sánh hiệu quả điều trị nhồi máu não bằng phương pháp xoa bóp – vận động Y học cổ truyền với phục hồi chức năng theo phương pháp Bobath

NCS24 - 17h00 - 11/15/2006

Vương Thị Kim Chi Đặt vấn đề: Tai biến mạch máu não (TBMMN) đang là vấn đề thời sự do tần số mắc bệnh trong cộng đồng rất cao, bệnh cảnh lâm sàng nặng nề, tỷ lệ tử vong cũng như di chứng tàn tật nhiều và chi phí Y tế xã hội rất lớn. Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này nhằm: So sánh hiệu quả điều trị bệnh nhân nhồi máu não bằng phương pháp xoa bóp-vận động Y học Cổ truyền với phục hồi chức năng theo phương pháp Bobat. Đối tượng và Phương pháp: Nghiên cứu trên 110 đối tượng liệt nửa người do nhồi máu não điều trị tại Bệnh viện Trung ương Huế và Bệnh viện Đại học Y khoa Huế, từ tháng 5/ 2005 đến tháng 9/ 2006. Các đối tượng này chia thành hai nhóm: nhóm A(54bệnh nhân): Phục hồi chức năng bằng xoa bóp-vận động Y học Cổ truyền (theo phương pháp Nguyễn Tài Thu và Nguyễn Bá Hoa), nhóm B(56 bệnh nhân): Phục hồi chức năng bằng phương pháp Bobath. So sánh kết quả: ở hai thời điểm: trước điều trị (D0) và sau điều trị (D20) của hai nhóm (nhóm A với nhóm B). Tiêu chuẩn đánh giá kết quả: Dựa vào tiến triển của độ liệt Rankin. Kết quả: Số bệnh nhân phục hồi chức năng bằng phương pháp xoa bóp -vận động Y học Cổ truyền có độ liệt Rankin tiến triển từ độ IV xuống độ I -II là 84,78%, độ III là 7,49%. Số bệnh nhân được phục hồi chức năng theo phương pháp Bobath có độ liệt Rankin tiến triển từ độ IV xuống độI -II là 82,14%, độ III là 10,71%. Hai phương pháp này đều có hiệu quả tốt tương đương nhau, có ý nghĩa thống kê với P < 0,01. Kết luận: Phương pháp xoa bóp -vận động Y học Cổ truyền đã góp phần phục hồi chức năng vận động cho bệnh nhân liệt nửa người do nhồi máu não có hiệu quả tốt tương đương với phương pháp Bobath của Y học Hiện đại.
52 Đánh giá kết quả xạ trị ung thư phổi không phải tế bào nhỏ giai đoạn IIB, IIAB

NCS23 - 8h00 - 11/16/2006

Võ Văn Xuân Ung thư phổi là một trong những bệnh ung thư thường gặp. Bệnh đứng hàng thứ nhất ở nam giới và đứng hàng thứ 4 ở nữ giới. Hơn 90% trường hợp ung thư phổi liên quan đến hút thuốc lá. Tuổi bệnh nhân thường gặp là 45-65 tuổi và đỉnh cao là 55-60 tuổi.Tỉ lệ nam/nữ là 8.6/1. Hàng năm, tỉ lệ tử vong do ung thư phổi là 50-80/100.000 dân. Khoảng 30-35% sống 5 năm sau điều trị và 50% chết trong vòng một năm sau chẩn đoán. Ung thư phổi thường phát hiện muộn, khoảng 70-80 % số bệnh nhân được chẩn đoán ở giai đoạn II B, III A,B. Vị trí khối u ở phổi trái có tỉ lệ sống thêm cao hơn phổi phải: 41,2% so với 31,6%. U thùy giữa tỉ lệ sống thêm cao hơn thuỳ trên và thuỳ dưới với tỉ lệ tương ứng: 61,1%; 31,6% và 18%. Carcinoma dạng biểu bì sống thêm cao hơn carcinoma tuyến với tỉ lệ tương ứng là 41,1% và 25,4%. Carcinoma bào lớn chỉ sống 13,5 tháng. Giai đoạn càng sớm kết quả sống thêm càng cao; GĐ IIB: 43,2%, GĐ IIIA: 30,3% và GĐ IIIB chỉ sống thêm 41,5 tháng, không có trường hợp nào sống quá 5 năm. Xạ trị Gia tốc tỉ lệ sống thêm 5 năm 49,4% so với Cobalt là 28,8%. Liều xạ 60-70Gy sống thêm cao hơn liều > 70 và < 50 Gy, tỉ lệ tương ứng là 59,9%, 24,6% và 6,9%.
53 Dự kiến chức năng hô hấp sau mổ cắt bỏ một phần phổi bằng xạ hình định lượng tưới máu phổi

NCS23 - 8h15 - 11/16/2006

Nguyễn Thế Trí Tóm tắt: Mục tiêu nghiên cứu của chúng tôi là đánh giá vai trò của xạ hình định lượng tưới máu phổi trong dự kiến chức năng thông khí sau mổ và thay đổi chức năng thông khí sau mổ phổi. 74 bệnh nhân phẫu thuật phổi gồm 60 nam và 14 nữ được đánh giá trước và sau mổ 1 và 3 tháng với các thông số FVC và FEV1. Dự kiến chức năng sau mổ bằng xạ hình định lượng tưới máu phổi trước mổ. Kết quả: FVC và FEV1 dự kiến có tương quan tốt với các thông số tương ứng đo được sau mổ. Hệ số tương quan tuyến tính so với thời điểm sau mổ 3 tháng tương ứng là 0.695 và 0.750 (p<0.01) với cắt phổi ; 0.782 và 0.849 (p<0.01) với cắt thuỳ phổi. FVC và FEV1 sau mổ 3 tháng giảm 32.9 và 28.3% sau cắt phổi; 16 và 14% sau cắt thuỳ phổi. Kết luận: Chức năng thông khí sau mổ phổi giảm nhiều so với trước mổ. Mức độ suy giảm phụ thuộc vào phạm vi phổi bị cắt bỏ và thời điểm đánh giá. Xạ hình định lượng tưới máu phổi với 99mTc - MAA ghi hình bằng SPECT là phương pháp không xâm lấn, khả thi, an toàn và đơn giản nhưng có giá trị tốt để đánh giá chức năng từng phần của phổi trước mổ từ đó dự kiến được tốt chức năng sau mổ tốt, cần được áp dụng trong thăm dò trước mổ phổi để xác định phạm vi tối đa bệnh nhân có thể chịu đựng được việc cắt bỏ một phần phổi.
54 Đánh giá hiệu quả dự phòng của tiêm Vitamin K cho trẻ sơ sinh dựa trên sự thay đổi Prothrombin

NCS20 - 8h30 - 11/16/2006

Cung Thị Thu Thủy Trẻ sơ sinh có nồng độ vitamin K thấp có nguy cơ xuất huyết rất cao. Dự phòng tiêm bắp vitamin K phòng xuất huyết cho trẻ sơ sinh đã được áp trên thế giới rất có hiệu quả. Nghiên cứu đề tài nhằm: Đánh giá thay đổi tỷ lệ prothrombin sau dự phòng vitamin K tiêm bắp sau đẻ 5 ngày ở trẻ sơ sinh tại BVPSTƯ. Kết quả: >70% trẻ sơ sinh có tỷ lệ prothrombin dưới mức bình thường (tỷ lệ prothrombin trung bình ngay sau đẻ là 61,5% - 63,2%). Tỷ lệ prothrombin tăng sau tiêm bắp vitamin K 1mg sau ở nhóm can thiệp (p <0,001). Kết luận: Dự phòng chảy máu bằng vitamin K bằng đường tiêm bắp 1mg sau đẻ cho tất cả trẻ sơ sinh sau đẻ là cần thiết để tăng yếu tố đông máu.
55 Đánh giá hiệu quả dự phòng của tiêm Vitamin K cho trẻ sơ sinh dựa trên sự thay đổi Prothrombin

NCS23 - 8h45 - 11/16/2006

Hữu Thị Chung Để góp phần nghiên cứu đánh giá các tác dụng chữa bệnh của nước khoáng, nguồn tài nguyên thiên nhiên quí giá của đất nước, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đánh giá tác dụng của nước khoáng và bùn khoáng Mỹ Lâm - Tuyên Quang trong điều trị Viêm khớp dạng thấp. Đối tượng nghiên cứu gồm 100 Bệnh nhân được chia thành 2 nhóm tương đối đồng nhất, 50 Bệnh nhân được điều trị thuốc kết hợp nước khoáng và bùn khoáng, 50 Bệnh nhân ở nhóm đối chứng được điều trị thuốc đơn thuần. Kết quả cho thấy có cải thiện rõ rệt các tiêu chí đánh giá cao hơn hẳn ở nhóm N.C so với nhóm chứng. Đánh giá cải thiện theo tiêu chuẩn ACR20 đạt 76% cao hơn ở nhóm chứng (36%) (P= 0,00005). Đánh giá cải thiện theo thang điểm DAS đạt 72% cao hơn so với nhóm chứng (32%) (P= 0,000062). Kết quả trên đây cho thấy nước khoáng Mỹ Lâm có tác dụng tốt, có thể kết hợp các phương pháp khác để điều trị bệnh Viêm khớp dạng thấp.
56 Đánh giá hiệu lực của dị nguyên bụi nhà nuôi cấy D.pteronyssinus (D.pte) qua kết quả điều trị giảm mẫn cảm đặc hiệu ở bệnh nhân viêm mũi dị ứng do mạt bụi nhà (D.pte)

NCS25 - 9h00 - 11/16/2006

Nguyễn Trọng Tài Dị nguyên do chúng tôi tách chiết từ mạt bụi nhà nuôi cấy D. pteronyssinus đã được sử dụng để điều trị GMCĐH cho 40 bệnh nhân VMDƯ do bụi nhà. Kết quả điều trị bước đầu đã mang lại hiệu quả tích cực, được thể hiện qua các chỉ số: các triệu chứng lâm sàng thuyên giảm rõ rệt; tỉ lệ dương tính của các test in vivo giảm mạnh, đặc biệt là test kích thích mũi (p < 0,01); hàm lượng IgE toàn phần giảm từ 1128,1 ± 457,6 IU/ml xuống còn 863,2 ± 147,5 IU/ml; hàm lượng IgG toàn phần tăng từ 16,34 ± 4,81 mg/ml lên 27,47 ± 5,20 mg/ml; sau điều trị, tỉ lệ bệnh nhân đạt mức tốt và khá là 47,2%.
57 Điều tra tình hình nhiễm khuẩn vết mổ tại bệnh viện Bạch Mai

NCS23 - 9h15 - 11/16/2006

Nguyễn Quốc Anh Tiến hành điều tra tình hình nhiễm khuẩn vết mổ (NKVM) của 911 bệnh nhân được phẫu thuật tại các phòng mổ thuộc hai khu mổ cũ và mới tại bệnh viện Bạch Mai, kết quả cho thấy: Tỷ lệ NKVM tại bệnh viện Bạch Mai trong thời gian nghiên cứu là 6,45%. Tỷ lệ NKVM ở nhóm bệnh nhân phẫu thuật tại khu mổ cũ là 10,5%, cao hơn hẳn so với tỷ lệ NKVM ở nhóm bệnh nhân phẫu thuật tại khu mổ mới là 2,4%. Sự khác biệt này hoàn toàn có ý nghĩa thống kê, P < 0.001. Đối với các bệnh nhân mổ phiên, tỷ lệ NKVM tại khu mổ cũ cao hơn rõ rệt (19,2%) so với khu mổ mới (4,4%) (P < 0.01). Những bệnh nhân được tiến hành phẫu thuật trong vòng 120 phút có tỷ lệ mắc NKVM tại khu mổ cũ (10,8%) cao hơn so với khu mổ mới (4,2%) (P < 0.01). Các vi khuẩn gây NKVM thường gặp là Enterococci (30,1%), E.coli (20,6%), sau đó là S.aureus và P.aeruginosa đều chiếm 4,8%.
58 Hoàn chỉnh kỹ thuật tách ADN từ mô ung thư gan và phản ứng PCR xác định HBV

NCS24 - 9h15 - 11/15/2006

Nguyễn Thị Vân Anh Viêm gan virut B mạn tính là nguyên nhân dẫn đến ung thư gan và các bệnh lý của gan ở người. Việt nam là nước có nguy cơ nhiễm viêm gan B cao, tỷ lệ mang HBsAg trong cộng đồng từ 14,4% đến 20%. Trong một số công trình nghiên cứu gần đây cho biết, với kỹ thuật PCR đã phát hiện được sự có mặt của HBV-ADN trong mô ung thư gan ở một số bệnh nhân không có HBsAg trong huyết thanh. Chúng tôi sử dụng hoá chất của hãng Promega và thu thập 10 mẫu mô ung thư gan có HBsAg(+) để tách ADN, sau đó chạy PCR để xác định HBV-ADN. Sử dụng 4 cặp mồi khuếch đại các vùng gen surface, core, corepromotor, polymerase của HBV. Kết quả: - Đã hoàn chỉnh kỹ thuật tách ADN từ mô gan. - Đã xác định được HBV-ADN từ mô ung thư gan với 4 vùng gen surface, core, corepromotor, polymerase bằng kỹ thuật PCR.
59 Điều tra thực trạng môi trường lao động và sức khỏe điện thoại viên “1080”

NCS24 - 9h30 - 11/15/2006

Trịnh Hoàng Hà Điện thoại viên “1080” làm việc trong điều kiện phòng kín có tính chất căng thẳng thần kinh tâm lý. Gánh nặng của môi trường lao động và áp lực công việc gây ảnh hưởng đáng kể đến sức khoẻ, dẫn đến hàng năm có khoảng 30% Điện thoại viên “1080” xin chuyển nghề. Qua kết quả nghiên cứu chúng tôi thấy, hàm lượng chất độc đánh giá trị số tổng hợp vượt tiêu chuẩn cho phép 1,32 lần. Tỷ lệ cảm giác khó chịu môi trường lao động từ 13,12% đến 82,94%; mức độ chấp nhận môi trường lao động “phần nào- mức 4” đạt 54,43% đến 83,00%. Tỷ lệ xuất hiện các triệu chứng của hội chứng phòng kín chiếm từ 11,71% đến 68,29%. Các nhóm bệnh thường gặp như Tai-Mũi- Họng, suy nhược thần kinh, xương khớp, dị ứng cao hơn nhóm chứng có ý nghĩa thống kê và tăng theo mức độ tiếp xúc và tuổi nghề. Theo chúng tôi, cần áp dụng các biện pháp chăm sóc sức khoẻ tích cự như: tổ chức lao động hợp lý; tuyển chọn, nghỉ ngơi tích cực… nhằm hồi phục sức khoẻ; nâng cao năng suất lao động và hạn chế tối thiểu việc chuyển nghề.
60 Phân loại mô bệnh học các Sacôm mô mềm tại Bệnh viện K Hà Nội

NCS23 - 9h45 - 11/15/2006

Bùi Thị Mỹ Hạnh Sacôm mô mềm (SMM) có hình thái mô học đa dạng, phức tạp nên khó chẩn đoán chính xác typ mô bệnh học(MBH) và phân biệt với những ung thư khác. Trong nghiên cứu này, 206 SMM đã được xem xét về tuổi, giới, vị trí u và xác định typ mô bệnh học bằng kỹ thuật nhuộm hematoxylin- eosin và hoá mô miễn dịch. Kết quả: (1) SMM gặp ở cả 2 giới với tỷ lệ ngang nhau (50%), lứa tuổi hay gặp nhất là 20-59 (67,47%), vị trí thường gặp nhất là chi dưới (38,84%). (2) Phân bố các typ MBH như sau: sacôm xơ bì lồi (SXBL) 17%, u mô bào xơ ác tính (UMBXAT) 14,56%, sacôm bao hoạt dịch 13,59%, sacôm cơ vân 12,14%, u vỏ thần kinh ngoại vi ác tính (UVTKNVAT) 9,22%, các sacôm khác chiếm tỷ lệ thấp hơn. (3) HMMD rất có giá trị để khẳng định typ MBH của các SMM không điển hình về mô học.
61 Nghiên cứu mô bệnh học và hóa mô miễn dịch trong phân loại tổn thương hạch

NCS 23 - 10h00 - 11/15/2006

Trần Đức Hưởng Nghiên cứu 1858 trường hợp sinh thiết hạch tại Bệnh viện K bằng mô học và hóa mô miễn dịch cho thấy di căn ung thư chiếm tỷ lệ cao nhất (35,25%), sau đó là viêm hạch mạn tính (20,82%), lao (19,42%) và u lympho ác tính không Hodgkin (18,62%). Các di căn hạch phổ biến nhất là ung thư biểu mô không biệt hóa (28,13%), ung thư biểu mô vảy (23,7%), ung thư biểu mô tuyến (16,97%) và ung thư biểu mô không định thứ typ được (13,3%). Các u lympho ác tính không Hodgkin chiếm tỷ lệ cao hơn nhiều so với bệnh Hodgkin (86,06% so với 12,8%, theo thứ tự). U lympho ác tính không Hodgkin, loại tế bào B chiếm tỷ lệ cao hơn so với u lympho tế bào T và u lympho Ki-1 (lần lượt là 79,71%, 18,15% và 2,14%). Các typ u lympho tế bào B phổ biến nhất là tế bào B lớn lan tỏa (53,57%), u lympho nang (25,9%) và u lympho tế bào B nhỏ (13,83%). Các typ u lympho tế bào T phổ biến nhất là u lympho nguyên bào lympho T (41,8%), u lympho tế bào T lớn (23,53%) và u lympho tế bào ngoại vi không đặc biệt (11,76%). Phân tích hóa mô miễn dịch các di căn hạch cho phép xác định kiểu hình miễn dich của các typ mô học, xác định các loại có dấu ấn đặc hiệu của di căn của u hắc tố ác tính và ung thư biểu mô tế bào nhỏ của phổi và định hướng nguồn gốc của các ung thư chưa rõ nguyên phát.
62 Nghiên cứu thực trạng gia đình người tàn tật trong phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng tại tỉnh Hải Dương

NCS 22 - 10h30 - 11/15/2006

Phạm Thị Nhuyên 1. Mục tiêu - Mô tả thực trạng về kiến thức, thái độ và thực hành của các thành viên gia đình người tàn tật tại tỉnh Hải Dương về bốn hoạt động đã được đào tạo. - Xác định các yếu tố liên quan đến phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng tại tỉnh Hải Dương của Thành viên gia đình người tàn tật 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu - Đối tượng: 639 Thành viên gia đình người tàn tật tại 4 xã của tỉnh Hải Dương - Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang. 3. Kết quả - Trong 639 Thành viên gia đình người tàn tật thuộc nhóm nghiên cứu gồm 271 nam ( 42,4%) và 368 nữ (57,6%) ở độ tuổi từ 15 đến 82. - Nghề nghiệp của họ: đa số là nông dân 433 người (67,8%), số còn lại là công nhân và thợ thủ công 155 người (18%), cán bộ nhà nước 32 người (5%), hưu trí 32 người (5%) và nghề buôn bán gồm 27 người (4,2%). - Thời gian tham gia Phục hồi chức năng tại nhà cho người tàn tật của Thành viên gia đình người tàn tật từ 1 đến 15 năm, 100% Thành viên gia đình người tàn tật đã được hướng dẫn hoặc tập huấn về kỹ thuật Phục hồi chức năng cộng đồng và nhận được tài liệu hướng dẫn để Phục hồi chức năng tại nhà cho người tàn tật. - Mức kinh tế của hộ gia đình người tàn tật rất thấp : 621 hộ đói nghèo (97,2%), 16 hộ có mức kinh tế trung bình và chỉ có 2 gia đình thuộc kinh tế mức khá (0,3%). 4. Kết luận 100% Thành viên gia đình người tàn tật trong nghiên cứu này có những hoạt động khác nhau để giúp đỡ người tàn tật trong gia đình họ, như : thăm hỏi, tập luyện, hướng dẫn cách sử dụng thuốc, động viên trẻ tàn tật đi học,…
63 Nghiên cứu thực trạng gia đình người tàn tật trong phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng tại tỉnh Hải Dương

NCS 22 - 10h30 - 11/15/2006

Phạm Thị Nhuyên 1. Mục tiêu - Mô tả thực trạng về kiến thức, thái độ và thực hành của các thành viên gia đình người tàn tật tại tỉnh Hải Dương về bốn hoạt động đã được đào tạo. - Xác định các yếu tố liên quan đến phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng tại tỉnh Hải Dương của Thành viên gia đình người tàn tật 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu - Đối tượng: 639 Thành viên gia đình người tàn tật tại 4 xã của tỉnh Hải Dương - Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang. 3. Kết quả - Trong 639 Thành viên gia đình người tàn tật thuộc nhóm nghiên cứu gồm 271 nam ( 42,4%) và 368 nữ (57,6%) ở độ tuổi từ 15 đến 82. - Nghề nghiệp của họ: đa số là nông dân 433 người (67,8%), số còn lại là công nhân và thợ thủ công 155 người (18%), cán bộ nhà nước 32 người (5%), hưu trí 32 người (5%) và nghề buôn bán gồm 27 người (4,2%). - Thời gian tham gia Phục hồi chức năng tại nhà cho người tàn tật của Thành viên gia đình người tàn tật từ 1 đến 15 năm, 100% Thành viên gia đình người tàn tật đã được hướng dẫn hoặc tập huấn về kỹ thuật Phục hồi chức năng cộng đồng và nhận được tài liệu hướng dẫn để Phục hồi chức năng tại nhà cho người tàn tật. - Mức kinh tế của hộ gia đình người tàn tật rất thấp : 621 hộ đói nghèo (97,2%), 16 hộ có mức kinh tế trung bình và chỉ có 2 gia đình thuộc kinh tế mức khá (0,3%). 4. Kết luận 100% Thành viên gia đình người tàn tật trong nghiên cứu này có những hoạt động khác nhau để giúp đỡ người tàn tật trong gia đình họ, như : thăm hỏi, tập luyện, hướng dẫn cách sử dụng thuốc, động viên trẻ tàn tật đi học,…
64 Đặc điểm của gãy xương sườn ở những nạn nhân tử vong do tai nạn giao thông trong hai năm 2004-2005

NCS22 - 10h45 - 11/15/2006

Lưu Sĩ Hùng Gãy xương sườn do tai nạn giao thông là thương tích thường gặp cùng với tổn thương gãy xương ức, vỡ tim, vỡ quai động mạch chủ, rập rách phổi…Dấu hiệu gãy xương sườn được xác định rõ trong khám nghiệm tử thi nhưng quan trọng hơn là đánh giá cơ chế hình thành thương tích và mối liên quan với dấu vết thương tích bên ngoài, tổn thương các tạng trong hố ngực và bụng. Nghiên cứu được tiến hành trên 544 nạn nhân tử vong do tai nạn giao thông có gãy xương sườn và chấn thương ngực được giám định Y pháp trong thời gian từ 1/1/2004 đến 30/6/2005. Trong tổng số 544 nạn nhân có 129 nạn nhân có tổn thương gãy nhiều xương sườn kèm tổn thương nặng của các tạng trong lồng ngực. Kết luận : Gãy xương sườn do tai nạn giao thông rất hay gặp trong chấn thương ngực nặng cùng với tổn thương các tạng trong lồng ngực. Với mỗi loại tổn thương cần được làm sáng tỏ để giúp tìm hiểu cơ chế hình thành thương tích, là điều rất quan trọng với giám định viên Y Pháp
65 Nghiên cứu đặc điểm hóa mô miễn dịch và mối liên quan với độ mô học, chỉ số tiên lượng Nottingham trong ung thư vú xâm nhập

NCS22 - 11h00 - 11/15/2006

Đặng Công Thuận Nghiên cứu 197 trường hợp ung thư biểu mô tuyến vú xâm nhập tại Bệnh viện K Hà nội được nhuộm hóa mô miễn dịch tại Đại học Stanford, Hoa Kỳ chúng tôi rút ra một số kết luận sau: Lứa tuổi mắc bệnh cao nhất là 41-60 tuổi (68,3%). Phân độ mô học SBR: độ I (14,7%), độ II (69,0%), độ III (16,3%). Chỉ số NPI: nhóm tiên lượng tốt 12,1%, nhóm tiên lượng trung gian 64,5%, nhóm tiên lượng xấu 23,4%. ER(+) trong 52,3%; PR(+) trong 37,1%; Her-2/neu(+) trong 43,7%; Ki-67(+) trong 51,8% và p53(+) trong 43,7% các trường hợp. Xâm nhập vào bạch mạch (D2-40) gặp trong 16,8% các trường hợp. Độ mô