Chương I
Thời kỳ thuộc Pháp (1902 - 1945)
 

HOÀN CẢNH RA ĐỜI

Năm 1885, tướng Pháp Bégin trong một dịp ghé qua Pondichéry (nhượng địa của Pháp tại ấn Độ, mãi 1956 mới trao trả) đã tới thăm trường Y khoa được thành lập từ năm 1863 ở đây. Năm 1886, khi trở thành quyền thống đốc Nam Kỳ, viên tướng này đã có ý tưởng thành lập một trường tương tự tại Sài Gòn. Không hiểu sao việc này không được triển khai tiếp và 12 năm trôi qua.

Hai năm trước khi Bégin sang cầm quyền ở Nam Kỳ thì triều đình Huế đã ký "hoà ước" năm Giáp Thân (6.6.1884), thừa nhận sự bảo hộ của Pháp ở Bắc và Trung kỳ và cũng chỉ sau một năm nữa (1887) sẽ bắt đầu hình thành liên bang Đông Dương thuộc Pháp. Có lẽ trong tình hình đó, ý tưởng của Bégin đành phải gác lại chăng ? Cũng nên biết rằng tên "Nam Kỳ, Bắc Kỳ" không phải do Pháp đặt mà là tên đất từ hồi còn độc lập. Kể từ nhà Nguyễn, vùng đất ở xa phía bắc Kinh đô được gọi là Bắc Kỳ và phía Nam là Nam Kỳ. Các triều đại trước không có tên gọi này vì lãnh thổ chưa vươn xa như vậy. Tên Trung Kỳ là do suy diễn: có Bắc, có Nam thì phải có Trung. Thật ra, Pháp gọi Trung Kỳ là Annam, tức là vương quốc An Nam. Gọi như vậy có nghĩa là nhà Nguyễn đã mất nốt Bắc Kỳ. Thói ngạo mạn của thực dân là thế, dùng ngay tên do bọn thống trị nhà Đường đặt ra trước đây để gọi đất nước ta tuy tên chính thức của nước ta khi đó là Đại Nam.
Tháng 6.1862, nhà Nguyễn phải ký nhượng cho Pháp 3 tỉnh miền đông Nam Kỳ (Biên Hoà, Gia Định, Định tường). Điều oái oăm là sau khi mất 3 tỉnh miền Đông thì 3 tỉnh miền tây (Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên) sẽ bị cắt đứt khỏi triều đình trung ương. Quả nhiên, chỉ đến tháng 6.1867, Phan Thanh Giản phải ký nhượng nốt ba tỉnh này cho Pháp trước khi uống thuốc độc tự vẫn. Sáu tỉnh Nam Kỳ 1vĩnh viễn tuột khỏi tay nhà Nguyễn, trở thành “nhượng địa” của Pháp. Sau đó, tình hình diễn biến đúng như chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói trong lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến năm 1946: "Ta càng nhân nhượng, giặc Pháp càng lấn tới": Pháp tiếp tục leo thang ra Bắc 2để đặt ách đô hộ lên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam và sang cả Cao Miên (Cămpuchia) và Lào. Về phần chúng ta, phải đợi đến Điện Biên Phủ năm 1954 mới có thể "thẹn ngàn thu rửa sạch làu làu" (Bình Ngô đại cáo)

Năm 1897, Paul Doumer sang thay Armand Rousseau làm toàn quyền Đông Dương, vấn đề xây dựng trường Y lại được đặt ra và đến 12.8.1898, một tiểu ban do bác sĩ hải quân Henaff đứng đầu được thành lập để nghiên cứu dự án tổ chức nhà trường. Các thành viên của tiểu ban, ngoài Henaff, còn có các bác sĩ Collomb, Pineau, Simon, Dejean de la Batie và dược sĩ Halbe. Đã tưởng như chắc chắn sẽ mở trường Y tại Sài Gòn nhưng người ta lại do dự, và lại 4 năm nữa trôi qua.

Doumer sang cầm quyền vào lúc cuộc khởi nghĩa văn thân đã thoái trào. Trong báo cáo ngày 22.3.1897, Doumer đã nhận định: "Tình hình chính trị ở Đông Dương không còn có những mối quan ngại lớn nữa, dân bản xứ có vẻ đã chịu chấp nhận sự cai trị của chúng ta". Như vậy có nghĩa là giai đoạn bình định bằng quân sự đã kết thúc và giai đoạn "khai hoá" bắt đầu. Doumer là một chính khách cỡ lớn vì sau khi ở Đông Dương về, ông liên tục làm bộ trưởng các bộ Tài Chính, Nội vụ, rồi chủ tịch Thượng Viện Pháp. Ông được bầu làm tổng thống cộng hoà Pháp năm đã 74 tuổi (1931). Năm 1932 ông bị một cựu binh côdắc ám sát chết ở Paris, theo một số dư luận báo chí, thì vì ông chủ trương đặt quan hệ ngoại giao với Liên Xô. Ngày đó, Liên xô vừa ra khỏi nội chiến và chiến tranh can thiệp của các nước đế quốc (chủ yếu là Anh và Pháp), còn đang bị phương Tây bao vây, cô lập.

Tại sao Đông Dương ? Về mặt địa lý, bán đảo Đông Dương bao gồm vùng đất Đông Nam á nằm giữa Trung Hoa và ấn Độ. Cái gọi là Đông Dương thuộc Pháp, hay như ngày trước thường gọi là xứ Đông Pháp, được khai sinh năm 1887, lúc đầu gồm xứ thuộc địa Nam Kỳ và ba xứ bảo hộ Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Cao Miên. Đến 1893, nước Lào được "kết nạp" và từ đó Liên bang Đông Dương thuộc Pháp có tổ chức hoàn chỉnh gồm 5 xứ.
Ngày 6 tháng 6 năm 1884 (Giáp Thân), đại diện triều đình Huế Nguyễn Văn Tường ký với đại diện Pháp Patenôtre bản “hoà ước” bán nước nhục nhã, khẳng định giá trị của hoà ước Harmand ký năm trước (25.8.1883), thừa nhận sự bảo hộ của Pháp đối với vương quốc An Nam, (sau được gọi là Trung Kỳ) gồm cả Bắc Kỳ
Năm 1886 (năm mà tướng Bégin đã nói trên làm quyền thống đốc Nam Kỳ), Paul Bert 3, đặc sứ của Pháp tại Trung và Bắc kỳ dưới triều Đồng Khánh (vua bù nhìn đầu tiên của triều Nguyễn được Pháp đưa lên ngôi sau khi vua Hàm Nghi đã bị bắt và đi đầy) đã đặt ra nha Kinh Lược Bắc kỳ do Nguyễn Hữu Độ đứng đầu (sau là Hoàng Cao Khải), danh nghĩa là khâm sai đại thần (tức là đại diện toàn quyền) của Nam triều nhưng chỉ làm theo lệnh của thực dân Pháp, thực tế đã cắt Bắc kỳ khỏi sự quản lý, dù chỉ là hình thức, của triều đình Huế. Đến Doumer, cái Nha Kinh Lược hình thức đó cũng bị bãi bỏ. Đồng thời, Doumer còn bãi bỏ cả Viện Cơ Mật, cơ quan quyền lực tối cao của nhà vua bù nhìn, không đếm xỉa thậm chí đến cả những hiệp ước bán nước mà triều Nguyễn đã ký trước đó với nước Pháp, thực hiện đầy đủ chính sách nhất quán của chủ nghĩa thực dân là: chia để trị.
Viên đại uý Gosselin trong đạo quân viễn chinh của Pháp đã thừa nhận: "Khi tới Annam, chúng ta đã đối mặt với một cư dân thống nhất chưa từng thấy, từ các vùng sơn cước Bắc Kỳ tới biên giới Cao Miên, về mặt dân tộc cũng như về các mặt chính trị và xã hội. Mọi sử gia tôn trọng sự thật không thể không thừa nhận điều này" (Gosselin: Vương quốc Annam.- 1904 - dẫn theo H.B.Lamb). "Trên thực tế, khi người Pháp lo chia cắt Việt Nam, họ không bao giờ cho phép nói tới hai chữ Việt Nam mà phải thay bằng Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ. Hình như người Pháp thật sự tin rằng hễ không nói tới Việt Nam là có thể bóp nghẹt mọi tình cảm dân tộc".(H.B.Lamb: The Vietnam's will to live - New York, 1972-pp 247).
Nhưng không thể để ba Kỳ thành ba thực thể riêng biệt, vì như vậy, không thể sử dụng Nam Kỳ làm căn cứ hậu cần tại chỗ cho việc bình định Trung và Bắc Kỳ (thực tế mỗi lần cần huy động lương thực hoặc tiền của để dùng trong việc bình định Bắc Kỳ thì bọn cầm đầu thực dân lại phải xin tận...Paris), nhưng cũng không thể tập hợp riêng ba kỳ thành một liên bang vì như vậy vô hình trung lại là tái lập một Việt Nam thống nhất, điều mà người Pháp hoàn toàn không muốn. Nhà cầm quyền thực dân tìm ra rất nhanh cách giải quyết nên đến 1887, liên bang Đông Dương ra đời và hoàn chỉnh vào năm 1893. Đây là một tổ chức nhà nước giả tạo, gò ép bỏ vào một rọ chung 3 quốc gia hoàn toàn khác biệt về nguồn gốc lịch sử, văn hoá và ngôn ngữ, bất chấp nguyện vọng và chủ quyền của các nước bị bảo hộ. Điều mỉa mai là sau này, chính các thế lực xâm lược lại dùng cái "liên bang Đông Dương" nguỵ tạo này để vu cáo chúng ta âm mưu bá quyền.
Từ đó, chế độ cai trị của Pháp tại Đông Dương được chính thức thiết lập. Đứng đầu toàn liên bang là một viên toàn quyền, đứng đầu mỗi xứ là một viên thống đốc (cho Nam Kỳ, vì đây là nhượng địa) hoặc thống sứ (cho Bắc Kỳ), nếu là xứ có vua thì mang tên khâm sứ, ví dụ như khâm sứ Trung Kỳ, khâm sứ Ai lao... Đứng đầu mỗi tỉnh ở Bắc và Trung Kỳ là một viên công sứ, chính quyền bảo hộ không đặt tới cấp huyện mà do quan lại bản xứ điều hành dưới sự chỉ đạo của công sứ, chủ yếu để làm những việc tạp dịch như hộ đê, thu thuế, trị an. Tuy Bắc và Trung kỳ vẫn còn các quan Nam triều cấp tỉnh (tổng đốc, tuần phủ, án sát, bố chính) nhưng quyền lực không hơn gì mấy viên tri huyện. Riêng Hà Nội và Hải Phòng là nhượng địa, do một viên đốc lý (thị trưởng) người Pháp đứng đầu.

Trong thời kỳ quá độ, hai trường Thông ngôn và Hậu bổ đã đào tạo được một lớp người tân học đầu tiên.

Trường Thông ngôn, như tên gọi của nó, có nhiệm vụ đào tạo phiên dịch viên tiếng Pháp đang rất cần cho thời kỳ bình định (trong số học sinh có Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh và nhiều người khác sau nổi tiếng trong văn học). Trường Hậu Bổ (sau đổi tên thành trường Sỹ Hoạn) đào tạo chủ yếu là những người đã có văn bằng Hán học (tiến sỹ, cử nhân, tú tài) trong 3 năm để chuẩn bị tuyển vào ngạch quan lại, làm việc dưới quyền các viên công sứ Pháp. Ban đầu, trường không hạn tuổi, tuyển cả người trên 50 nhưng sau đó đã dần dần thu hẹp, chỉ tuyển những người dưới 30 tuổi, thực tế đã loại bỏ nhiều sĩ phu đã tốt nghiệp các kỳ thi Hán học. Cùng với tiếng Pháp, hai trường này còn dạy cho học viên các kiến thức khoa học tự nhiên và khoa học xã hội phương Tây. Hai trường này đóng cửa năm 1917, khi trường trung học Bảo Hộ đã có những lớp học sinh tốt nghiệp đầu tiên.

Các kỳ thi Hương còn được duy trì tới khoa Ất Mão (1915) ở Bắc Kỳ (trường thi Nam Định) và khoa Mậu Ngọ (1918) ở Trung Kỳ (trường thi Vinh). Khoa thi Đình năm Kỷ Mùi (1919) chính thức đặt dấu chấm hết cho hệ thống khoa cử Hán học của Việt Nam với tổng số 189 khoa thi Đình, 3021 vị tiến sĩ cùng hàng vạn các vị cử nhân và tú tài của các kỳ thi hương. Kể từ khi vua Thánh Tông triều Lý thành lập Quốc tử giám 4 và mở khoa thi đầu tiên năm 1075, trải suốt 800 năm, nền giáo dục Hán học đã đào tạo cho đất nước nhiều danh nhân, danh tướng thì đến nay đã tỏ ra không còn phù hợp với yêu cầu của lịch sử. Tuy Nhân - Nghĩa - Lễ - Trí - Tín vẫn là nền tảng của đạo đức xã hội nhưng Tứ thư, Ngũ kinh 5 đã bất lực trong nhiệm vụ cung cấp tri thức cần thiết cho việc quản lý, xây dựng và cách tân đất nước. Nhưng, thay vì đổi mới nền giáo dục cũ, người ta lại thẳng tay xoá bỏ nó để ngày nay, về mặt chữ viết, chúng ta hoàn toàn bị cắt đứt với quá khứ: đi thăm các cung điện, đền chùa như một người nước ngoài, không còn đọc được các bài văn bia, các hoành phi, câu đối tổ tiên để lại chứ đừng nói gì đến các tác phẩm văn học Hán Nôm.

Một trường Y khi đó, dù mới sơ khai, cũng vẫn là đại diện duy nhất cho nền giáo dục đại học và cao đẳng của phương Tây ở Đông Dương. Nhưng tại sao lại là Y mà không phải các trường khác, có lẽ chính vì Y là ngành tân học dễ được chấp nhận nhất vì nhân đạo nhất. Sau này, khi đã bãi bỏ nho học, trường Y sẽ là con đường tiến thân của thanh niên, vẫn thoả mãn được mộng làm quan của nhiều người và vẫn đạt được những bằng cấp danh giá tương đương như cử nhân, tiến sĩ của chế độ trước. Theo ý nghĩa đó, trường Y sẽ là kế tục xứng đáng của Quốc Tử Giám, trường đại học đầu tiên của đất nước ta.

Cuối cùng, Hà Nội được chọn làm địa điểm thành lập trường vì trước hết, Hà Nội là đất thánh của giới sĩ phu Việt Nam, là cái nôi của nền giáo dục Hán học và tiêu biểu nhất cho cái xứ Đông Dương thuộc Pháp. Biên bản phiên họp thường kỳ năm 1898 của Hội đồng Tư vấn Tối cao Đông Dương (do Doumer thành lập) còn nói: "Bắc Kỳ không chỉ cho phép nghiên cứu các bệnh của vùng nhiệt đới Viễn Đông mà còn cả các bệnh riêng cho mùa lạnh. Hơn nữa, Bắc Kỳ tiếp giáp với Trung Hoa là nơi mà ảnh hưởng của nền Y học chúng ta đang ngày càng tăng cường. Đó là sự xâm nhập hữu hiệu nhất và cũng vinh dự nhất (nhấn mạnh của Henri Galliard, trong bài Yersin và việc thành lập trường Y Hà Nội - (Henri Galliard: Yersin và việc thành lập trường Y Hà Nội - Kỷ yếu trường Đại học Y Dược khoa Đông Dương, Hà Nội.- Tập 9.- 1944, tr 1).

Người ta lo đi tìm một hiệu trưởng cho trường Y tương lai. Những tài liệu lưu trữ cho thấy có nhiều người được giới thiệu. Brouardel, hiệu trưởng trường Đại học Y khoa Paris đề nghị năm người, trên hết là hai cựu nội trú đã qua thi tuyển sang Đông Dương là Degorce và Le Roy des Barres nhưng bộ trưởng bộ Thuộc địa Decrais phản đối: hiệu trưởng phải không được quá trẻ mà phải là người có đủ uy tín để đảm đương được nhiệm vụ. Do đó, toàn quyền Doumer đã chọn nhà khoa học gốc Thụy Sĩ 39 tuổi, học trò của Louis Pasteur, là Alexandre Yersin, khi đó đang làm giám đốc viện Pasteur Nha Trang. Alexandre Yersin là người đã tìm ra vi khuẩn dịch hạch trong một đại dịch tại Hồng Kông năm 1894. (Chú thích) Những sách giáo khoa cơ bản của Nho học, gồm: Luận ngữ, Mạnh tử, Trung dung, Đại học (Tứ Thư), Thi, Thư, Lễ, Dịch, Xuân Thu (Ngũ Kinh)

Yersin cùng một người Việt Nam giúp việc sang Hồng Công lúc đang có đại dịch. Ông vấp ngay phải đối thủ cạnh tranh quyết liệt là nhà khoa học Nhật Bản Kitasato, học trò của Robert Koch (người tìm ra vi khuẩn lao). Với khả năng kinh tế rồi rào, Kitasato đã "mua" tất cả các nhà xác ở các bệnh viện Hồng Công nên Yersin và người giúp việc chỉ còn cách mật phục tại nghĩa địa trong một ngôi nhà tranh để nghiên cứu trên tử thi. Khác với nhà khoa học Nhật Bản chỉ quan tâm tìm vi khuẩn trong máu, Yersin tập trung vào chọc dò hạch và đã thành công. Thoạt tiên, vi khuẩn được Yersin đặt tên Pasteurella pestis để ghi nhớ công ơn thầy học nhưng hậu thế đã trả lại vinh dự cho ông khi đổi tên vi khuẩn dịch hạch thành Yersinia pestis.
Ông xây dựng Viện Vi trùng học Nha Trang năm 1895 và khi làm Hiệu trưởng trường Y Hà Nội năm 1902, ông nắm quyền lãnh đạo cả Viện Pasteur Sài Gòn do bác sĩ Calmette sáng lập năm 1891.

Trong ý kiến gửi lên toàn quyền Đông Dương, Yersin đã xác định rõ mục đích và yêu cầu của nhà trường: trường Y Đông Dương phải là nơi vừa đào tạo, vừa nghiên cứu khoa học, tiến tới trở thành một trung tâm khoa học có tầm cỡ tại Bắc Kỳ. Do đó, Yersin yêu cầu phải xác nhận giá trị công ích của trường, hiệu trưởng phải do Tổng Thống Cộng Hoà Pháp bổ nhiệm theo giới thiệu của hiệu trưởng trường đại học Y khoa hoặc Giám đốc Viện Pasteur Paris và các giáo sư do tổng thống Pháp bổ nhiệm theo giới thiệu của hiệu trưởng trường Y Hà Nội. Nếu được như vậy thì trường Y Hà Nội sẽ có qui chế tương đương như các trường đại học y khoa ở chính quốc.

Ngày 8.1.1902, quyết định bổ nhiệm Yersin làm hiệu trưởng được ký cùng với Nghị định sau đây 6:

Toàn Quyền Đông Dương
Căn cứ Sắc lệnh ngày 21 tháng Tư 1891;
Căn cứ ý kiến của Hội đồng Tư vấn Tối cao Đông Dương trong khoá họp thường kỳ năm 1898;
Theo đề nghị của ông Giám Đốc Nha Nội Chính và ông Thống Sứ Bắc Kỳ;

Với sự đồng ý của Thường trực Hội đồng Tư vấn Tối cao Đông Dương;

Quyết định:
Điều 1: Xây dựng tại Hà Nội một trường Y khoa trực thuộc Toàn Quyền Đông Dương và phụ thuộc vào Nha Nội Chính về mặt hạch toán.
Điều 2: Trường Y khoa Hà Nội có nhiệm vụ:
1º Đào tạo các thầy thuốc người châu á có khả năng đảm nhiệm, cùng với các thầy thuốc người Pháp và dưới sự chỉ đạo của họ, công tác y tế ở Đông Dương và các chức vụ ở bên ngoài (nguyên văn: dans les postes de l'extérieur);
2º Góp phần nghiên cứu khoa học về căn nguyên và điều trị các bệnh của người Âu và người bản xứ ở Viễn Đông.
Điều 3: Việc giảng dạy của trường gồm:
1º Phần cho sinh viên châu á gồm tập hợp các bài giảng lý thuyết và thực hành, việc thực tập được tiến hành tại một bệnh viện bản xứ trực thuộc trường
2º Phần giành cho các nhà khoa học tại chỗ và biệt phái đến trường gồm các phòng thí nghiệm chuyên ngành phục vụ nghiên cứu khoa học.
Điều 4: Khung cán bộ của trường gồm có:
1º Một Hiệu trưởng do Toàn Quyền bổ nhiệm theo đề nghị của Hiệu trưởng trường Đại học Y khoa Paris hoặc của Giám đốc Viện Pasteur.
2º Các giáo sư được bổ nhiệm theo đề nghị của Hiệu trưởng, chọn trong số các thầy thuốc dân y ở chính quốc hoặc ở Đông Dương và các thầy thuốc quân y được bàn giao cho Toàn quyền Đông Dương.
3º Các giảng viên, theo đề nghị của Hiệu trưởng, được lựa chọn trong số các thầy thuốc dân y ở thuộc địa, hoặc với sự đồng ý của tướng Tổng chỉ huy, trong số các thầy thuốc Quân Y và Quân Dược ở Hà Nội trong khi vẫn tiếp tục công tác tại bệnh viện hoặc các đơn vị quân đội.
Trường hợp đặc biệt, có thể được bổ nhiệm làm giáo sư hoặc giảng viên những người tuy không có văn bằng bác sĩ y khoa nhưng có kiến thức về một ngành khoa học đặc biệt.
Điều 5: Khi được hiệu trưởng đề nghị, các nhà khoa học Pháp và ngoại quốc có thể tiến hành nghiên cứu khoa học tại các phòng thí nghiệm chuyên ngành và các khoa lâm sàng của trường.
Điều 6: Các Viện Vi trùng học hiện có ở Đông Dương và bệnh viện bản xứ ở Hà Nội sẽ đặt dưới quyền hiệu trưởng nhà trường.
Điều 7: Tướng Tổng chỉ huy, Giám đốc Nha Nội chính Đông Dương và Thống sứ Bắc Kỳ, theo chức trách của mình, chịu trách nhiệm thực hiện Quyết định này.

Hà Nội, ngày 8 tháng Giêng năm 1902
Toàn quyền Đông Dương
PAUL DOUMER

Nghị định này tuy không đáp ứng hoàn toàn các yêu cầu của Yersin vì trường vẫn ở qui mô một trường thuộc địa nhưng đã nhấn mạnh nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, phần nào mang dáng dấp một nền giáo dục đại học ban đầu. Sau đó 17 năm nữa thì giáo dục Nho học mới thực sự chấm dứt và dù thế nào thì trường Y Hà Nội cũng đã trưởng thành để có thể cho "ra lò" các vị cử nhân và tiến sĩ mới.

Ngay ở đây, ta đã có thể thấy sự khác biệt về quan điểm giữa một nhà khoa học chân chính và một viên quan cai trị, dù sau này trở thành chính khác lớn: Yersin muốn có một cơ sở khoa học theo đúng nghĩa nhưng Doumer có lẽ chỉ muốn để lại một dấu ấn của mình, cùng với cầu Long Biên và đường xe lửa Hà Nội - Vân Nam. Những việc đã làm chứng tỏ ông ta chỉ toàn tâm, toàn ý lo củng cố sự thống trị thực dân và đẩy mạnh khai thác thuộc địa. Nhiều tài liệu đã cho biết Đông Dương là thuộc địa đóng góp nhiều nhất cho mẫu quốc trong hệ thống thuộc địa của thực dân Pháp, trong đó chắc Doumer góp công đầu.

NHỮNG BƯỚC THĂNG TRẦM CỦA THỜI KỲ ĐẦU

Kỳ thi tuyển đầu tiên vào trường Y khoa Hà Nội có 121 thí sinh Bắc Kỳ. Ngày đó, tiêu chuẩn cao nhất là biết ít nhiều tiếng Pháp. Hệ thống giáo dục phổ thông chưa được tổ chức (mãi năm 1907 mới thành lập trường Trung học Bảo Hộ, tức trường Bưởi). Theo kết quả công bố ngày 1.2.1902, có 15 người trúng tuyển, trong đó có 7 thí sinh người Hà Nội, tất cả đều đạt loại Xuất sắc (très bien), gồm các vị 7:
STT HỌ VÀ TÊN TUỔI ĐỊA CHỈ
1. Nguyễn Văn Thanh 16 tuổi Số 10 phố Hàng Tre
2. Tạ Văn Việt 16 tuổi Số 109 phố Mã Mây
3. Nhữ Trọng Tân 19 tuổi Số 6 phố Hàng Ngang
4. Trần Đình Huy 15 tuổi Số 41 phố Hàng Bạc
5. Phạm Đình Minh 15 tuổi Số 100 phố Hàng Gai
6. Nguyễn Văn Giụ 18 tuổi Số 45 phố Hàng Vôi
7. Phạm Văn Nam 20 tuổi Số 16 phố Hàng Chiếu

Danh sách được học bổng đăng trong Công báo Đông Dương ngày 3 - 4 - 1902 gồm 27 người, riêng Hà Nội có 5 người, hơi khác với danh sách trúng tuyển ở trên (nguyên bản không có dấu và các tên đều có gạch nối)

Xứ Bắc Kỳ:  
Hà Nội Ta-van-Viet, Nhu-trong-Tam, Tran-dinh-Huy, Pham-dinh-Minh, Pham-van-Phan
Tỉnh Bắc Ninh Pham-dinh-Vi
Tỉnh Hải Dương Nguyen-van-Ban, Le-quang-Linh
Tỉnh Hưng Hoá Nguyen-huu-Phuc
Tỉnh Nam Định Hoang-van-Phong, Bui-van-Qui, Tran-van-Chuc, Do-van-Tân
Tỉnh Ninh Bình Cao-dinh-Tu
Tỉnh Sơn Tây Le-nhu-Hang
Xứ Trung Kỳ: Ung-Phong, Le-Canh, Vo-dai-Thuc, Van-dinh-Gian
Xứ Nam Kỳ: Lương-van-Thieu, Nguyen-van-Ba, Vo-van-Huu, Nguyen-van-Danh, Pham-van-Chu, Nguyen-van-Tiep, Nguyen-van-Sanh, Nguyen-van-Trong
Xứ Cao Miên: Pendinand Amphon
Cộng 28 vị (?)

Năm học đầu tiên cách đây đúng 100 năm có 15 học sinh Bắc Kỳ, 5 học sinh Trung Kỳ, 8 học sinh Nam Kỳ và 1 học sinh Cao
Miên (nhưng không thấy trong danh sách học bổng), tất cả 29 người 8 được họcbổng với mức 8 đồng một tháng (có lẽ để bảo
đảm tính chất "Đông Dương" nên riêng Bắc Kỳ có số thí sinh đông nhất mới phải thi tuyển, còn học sinh các xứ khác do chính
quyền địa phương cử tuyển trong số người biết tiếng Pháp). Không có căn cứ cụ thể để tính giá trị của học bổng này, nhưng dựa
vào luận án của Giáo sư Đinh Văn Thắng năm 1940 có thể biết được đại khái: giá cả năm 1938 là 1 hào một chục bìa đậu phụ
hoặc một lít nước mắm loại ngon. Theo Nguyễn Ngọc Lanh (do các cụ kể lại) thì 6 đồng bạc năm 1902 mua được 1.000 quả
trứng hoặc 3 - 4 tạ gạo. Lương Tri huyện vào thời này cũng chỉ khoảng 25 đồng (theo Đặng Hữu Thụ: Làng Hành Thiện và các
nhà nho Hành Thiện triều Nguyễn, sách tự xuất bản.- Paris 1992). Ngân sách dành cho thư viện và sách giáo khoa là 2000
đồng trong năm đầu tiên.

Lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng toà nhà chính của trường (tức lễ thành lập) được tiến hành vào ngày 27 tháng Hai 1902 tại ấp Thái Hà (Nam Đồng), cách xa trung tâm Hà Nội, ngay hôm trước ngày khánh thành cầu Paul Doumer (tức cầu Long Biên). Chắc không phải ngẫu nhiên mà hai "dấu ấn văn hoá" này của toàn quyền Paul Doumer được trình làng vào cùng một dịp.

Trường khai giảng ngày 1 tháng Ba 1902. Thời gian học cho tới kỳ nghỉ hè 1902 thật ra là để hoàn thành chương trình dự bị trước khi khai giảng chính thức năm học vào tháng Mười. Các môn học gồm có:
- Giải phẫu và sinh lý học đại cương
- Động vật học, Thực vật học, Hoá học và Vật lý học đại cương
- Số học và Hình học
- Tiếng Pháp, Lịch sử và Địa lý đại cương.

Trong thời gian này, hiệu trưởng yêu cầu hai bác sỹ Le Roy des Barres và Degorce hoàn thành luận án tốt nghiệp tại Paris (hai bác sĩ này đã phải qua một kỳ thi tuyển sang Đông Dương). Khung cán bộ trong năm đầu tiên gồm 8 vị:
Yersin, hiệu trưởng
Degorce và Le Roy des Barres: giảng dạy lâm sàng
Bertin Capus, bác sĩ trưởng hạng nhất: giảng dạy giải phẫu
Jacquet, giám đốc sở Nông Nghiệp: giảng dạy thực vật học
Duveigne, dược sĩ trưởng: giảng dạy Hoá học
Gallois, thư ký: giảng dạy Lịch sử, Địa lý, Toán học, Hoá học và Vật lý học cơ bản
Lê Văn Chinh, phụ giảng và phiên dịch (thầy Chinh, năm 1905, được sang Pháp thi bác sĩ y khoa)

Như vậy có tới 6 vị có học vị bác sĩ (theo cách gọi thời đó, thực chất là tiến sĩ) và 1 vị có học vị cử nhân để giảng dạy 29 học sinh mới chỉ võ vẽ tiếng Pháp và chút ít kiến thức về toán pháp và cách trí (tên gọi các môn khoa học thường thức ngày ấy). Không kể học sinh Nam Kỳ, học sinh Bắc Kỳ chắc còn phải giỏi Hán văn vì những năm đó, nhiều người trong số họ có thể đang chuẩn bị thi Hương thì bỏ sang cầm bút sắt. Ngoài ra để đi thi Hương những khoá cuối cùng, họ cũng sẽ phải thi môn toán pháp và cách trí. Nếu đây là một lớp nho sinh thì chắc không bao giờ có một số đông đến thế các vị khoa bảng cùng giảng dạy trong một khoá học.

Chương trình ba năm học được qui định như sau:

Năm thứ Nhất: Năm thứ Hai: Năm thứ Ba:
Giải phẫu lý thuyết Giải phẫu lý thuyết Giải phẫu định khu
Mô học Lâm sàng ngoại khoa Bệnh ngoài da và hoa liễu
Phẫu tíchPhẫu tích Phẫu thuật Lâm sàng ngoại khoa
Lâm sàng ngoại khoa Lâm sàng nội khoa Điều trị học
Sinh lý họcHoá học Vi trùng học Lâm sàng nhãn khoa
Lâm sàng nội khoa Bệnh học đại cương Phẫu thuật
Động vật học, lý thuyết và thực hành Bệnh học nội khoa Pháp Y
Thực vật học Bệnh học ngoại khoa Phôi thai học
Vật lý học, hoá học, lý thuyết và thực hành Vật lý học Vệ sinh
Tiếng Pháp, Địa lý, Lịch sử Địa chất học Lâm sàng nhãn khoa
  Giải phẫu bệnh học Lâm sàng nha khoa
  Thiên văn học Lâm sàng sản khoa
  Dược lý học Lâm sàng nội khoa
  Khí tượng học  

Môn Giải phẫu được giảng dạy trong cả 3 năm học, dù nay chưa biết nội dung hay dung lượng nhưng phải học suốt 3 năm là khá nặng, đã có thể thấy là học sinh được đào tạo rất cơ bản và không thể coi đây là một chương trình trung cấp. Những môn cơ bản khác, như địa chất, thiên văn và khí tượng thì học sinh tốt nghiệp phổ thông của ta bây giờ cũng không biết nhưng lại cần cho hành nghề y, vì liên quan tới những kiến thức về khí hậu, thời tiết và lịch pháp (thuật tính lịch). Tóm lại là kiến thức của học sinh y khoa khoá đầu được chuẩn bị khá toàn diện Thực hành rất được chú ý.

Học sinh ngay từ năm thứ nhất đã đi thực tập tất cả các buổi sáng, từ 7 đến 9 giờ, tại bệnh viện thực hành của nhà trường (được xây dựng cách trường 200 mét, thời gian đầu có 5 phòng, 40 giường, 4 y tá nam, 2 y tá nữ và 6 y công), buổi chiều lên lớp lý thuyết. Chiều thứ Năm hàng tuần có kiểm tra viết, thứ Bảy có thêm kiểm tra vấn đáp.

Đã có nhiều ý kiến trong giới cầm quyền thực dân phản đối chương trình học của trường, cho rằng các môn cơ bản (lịch sử, địa lý, địa chất, thiên văn, khí tượng) chỉ là kiến thức chết, làm học sinh không tập trung được cho các môn y học. Câu trả lời của Yersin mang tính nhân văn sâu sắc: "Đó chỉ là chương trình tạm thời, có thể thay đổi khi chúng ta có thêm kinh nghiệm. Chúng tôi cho rằng dạy học sinh một số kiến thức về phương Tây là cần thiết vì y học hiện đại có nguồn gốc từ phương Tây. Giả sử ngược lại, y học hiện đại có nguồn gốc từ Trung Hoa thì chúng ta sẽ phải dạy cho sinh viên châu Âu các kiến thức về Trung Hoa... Quả thật là các thầy thuốc do nhà trường đào tạo sẽ chỉ hành nghề chủ yếu ở đất nước họ, nhưng đó không phải lý do để chỉ dạy họ những môn thuần túy y học, nghĩa là chỉ muốn họ trở thành các thầy thuốc tồi" (Yersin: Thư gửi toàn quyền Đông Dương ngày 20.8.1902).

Rõ ràng chương trình học nhằm cung cấp cơ sở lý thuyết và thực hành cần thiết cho học sinh trong điều kiện hệ thống giáo dục phổ thông chưa hình thành. Kết quả các kỳ thi kiểm tra tháng Sáu rất tốt, 15 học sinh đạt điểm trung bình 6/10, chứng tỏ họ có khả năng tiếp thu những môn học mới mẻ và đa dạng của chương trình

Có lẽ các bạn trẻ sẽ ngạc nhiên khi chỉ có 15/29 người đạt trên trung bình mà đã khen là kết quả “rất tốt”. Ngày trước, các kỳ thi lên lớp rất khó khăn, thường chỉ nửa số sinh viên Y1 học chính qui lên được Y2 và lại một nửa số đó sẽ lên Y3, nên khoá đầu, trong điều kiện trình độ phổ thông còn hạn chế mà đạt được tỷ lệ lên lớp gần 50% đã là kết quả tốt.
Kết quả các kỳ thi Tú tài phần 1 sau này cũng ngặt nghèo: thường chỉ đạt tối đa 30 - 35% qua cả hai lần thi đầu và cuối hè, tú tài phần 2 được khoảng 40%, nghĩa là cuối cùng, chỉ còn 14-15% học sinh mỗi khoá tốt nghiệp phổ ông.

Bệnh viện thực hành, mới đến ngày 25 tháng Hai, chỉ 5 ngày trước khi khai trường, đã nhận 21 bệnh nhân nội trú. Trong 4 tháng đầu đã nhận điều trị 546 bệnh nhân nội trú và khám bệnh, phát thuốc cho 250 bệnh nhân ngoại trú. Số bệnh nhân có thể nhiều hơn nữa nếu bệnh viện có thêm ngân sách và giường bệnh.

Nghị định ngày 28.7.1902 bổ sung đầy đủ hơn về các qui chế học tập, chương trình và thời gian các học kỳ (nghỉ Tết trong suốt tháng 2 và nghỉ hè từ 16 tháng 6 đến 15 tháng 9). Sau khi tốt nghiệp, học sinh được cấp bằng y sĩ và có thể dự thi để được làm nội trú bệnh viện hoặc phụ giảng (répétiteur) của trường trong 2 năm. Như vậy, chế độ thi nội trú đã được đặt ra ngay từ đầu, theo khuôn mẫu các trường đại học Y bên Pháp (vì vậy có lẽ mà khoá đầu ra trường mất những 5 năm, sau hai năm làm nội trú)

Địa điểm ấp Thái Hà không thuận tiện cho việc đặt trường. Khu vực này cách trung tâm thành phố tới 5 kilômét (hồi ấy chủ yếu đi bộ), nên ít bệnh nhân; nhiều ao hồ nên bệnh sốt ráe còn hoành hành (chỉ vài tháng sau khi khai giảng, hầu hết học sinh cũng như nhân viên người Âu đã bị sốt rét). Được ít lâu, có thể là vào cuối năm 1902, trường phải dọn về một ngôi nhà ở phố Bobillot (phố Lê Thánh Tông ngày nay) còn bệnh viện thực hành thì về đầu phố Armand Rousseau (phố Lò Đúc), có hai căn nhà bằng gỗ lợp lá gồi.

Theo đề nghị của học sinh, hiệu trưởng ký quyết định cho phép họ được đeo thẻ bài có khắc dòng chữ Hán "Học sinh Y khoa Đông Dương". Đây là một vinh dự rất lớn vì ngày đó, chỉ các quan Nam Triều mới được đeo thẻ bài. Đeo thẻ bài thì phải mặc Nam phục (áo dài may bằng the, đoạn, hoặc gấm, khăn xếp, dép da) để đeo vào khuy áo bên phải ngực. Mới vào học trường Y mà đã ra dáng một vị đường quan rồi. Hiệu trưởng tỏ ra rất hiểu và thông cảm với tâm lý học sinh nên mới có quyết định này. Có lẽ điều đó cũng phản ánh quan niệm của hiệu trưởng: trường sẽ đào tạo ra các trí thức cao cấp cho xã hội, không phải chỉ đơn giản là những anh y sĩ phụ việc như trong quyết định thành lập.

Cuối năm 1902, Paul Doumer mãn nhiệm, rời Đông Dương về Pháp, Yersin trở nên đơn độc trước các ý kiến chỉ trích chương trình học của nhà trường. Paul Beau sang thay đã ban hành các nghị định qui định chi tiết chức năng và nhiệm vụ của trường Y Hà Nội: đổi tên trường thành trường Y khoa Đông Dương trực thuộc Toàn quyền Đông Dương, kéo dài chương trình học thành 4 năm và học sinh ra trường được cấp bằng y sĩ. Những học sinh đã tốt nghiệp trường Y Chợ Quán và các trường tương đương khác có thể vào học thẳng năm thứ Ba. Mở thêm khoa Nữ Hộ sinh và khoa Thú Y. Cho phép những người đang hành nghề đông dược được dự thính các giờ giảng.

Có thể hiểu đây là sự thừa nhận gián tiếp nền y học cổ truyền do các nho sĩ thực hành. Hệ thống giáo dục Hán học không có trường chuyên đào tạo y học. Y học chỉ là chuỗi lô gích Nho - Y - Lý - Số. Ai biết đọc sách và hiểu được ý nghĩa thâm thúy của sách thánh hiền đều có thể đọc sách y để trở thành thầy lang (hoặc đọc sách lý và số để làm thầy tướng) và những người kiệt xuất lại có thể viết sách y học truyền cho hậu thế. Cần phân biệt y học cổ truyền bác học, dựa trên lý thuyết Âm - Dương, Ngũ Hành do tầng lớp trí thức Nho học hành nghề và y học cổ truyền dân gian, dựa trên kinh nghiệm lâu đời, được lưu hành trong các gia đình. Tại nước ta, hai nền y học này vẫn tồn tại và phát triển song song với y học phương tây cho tới tận ngày nay và đó cũng là hậu quả của sự không có thời kỳ chuyển tiếp giữa cựu và tân học. Các nước phương Tây cũng có y học cổ truyền nhưng theo đà tiến bộ của lịch sử, nó đã hoà nhập được phương pháp thực nghiệm và các yếu tố khoa học để trở thành y học khoa học ngày nay, những yếu tố lạc hậu đã bị dần dần mai một.
Trước khi có Tây Y, công tác y tế tại nước ta dựa trên các thầy lang (trí thức và dân gian) và nguồn thuốc Nam và Bắc. Như vậy, với một ý nghĩa nào đó, trường Y sẽ là nơi giới thiệu các thuốc Tây Y của nhiều hãng dược phẩm bên Pháp, mở ra thị trường tiêu thụ dược phẩm ở Đông Dương.

Các nghị định không nói tới nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, có nghĩa là đã hạ thấp vai trò của trường Y Đông Dương thành một trường trung cấp. Lớp dự bị vẫn được mở, chỉ học sinh nào thi tốt nghiệp dự bị đạt yêu cầu mới có thể vào trường Y.

Với cách tổ chức mới của trường Y Đông Dương trong tầm nhìn thiển cận của giới cầm quyền, Yersin kết luận "Họ (những học sinh y khoa) đã bị kết án mà không qua xét xử". Vào thời kỳ đầu, nếu chưa có học sinh có trình độ phổ thông theo yêu cầu thì trường Y cố tạo ra trình độ đó cho học sinh trong khi chờ đợi, đó là lý do mở các lớp dự bị trước khi bước vào chương trình chính thức. Trong tư tưởng của ông, trường Y Đông Dương luôn là và thực chất là một trường Đại học đang phát triển. Ngày 9.7.1904, ông rời ngôi nhà số 44 đường Félix Faure Hà Nội (nay là đường Trần Phú) ra đi mãi mãi. Viện Pasteur Nha Trang và nhiều công việc khác đang chờ ông (ông là người phát hiện ra cao nguyên Đà lạt 9năm 1983, là người đưa giống cao su và cọ dầu sang trồng ở miền nam Việt Nam từ năm 1897). Ông đã cống hiến 39 năm còn lại của cuộc đời cho mảnh đất Nha Trang mà ông yêu quí và đã vĩnh viễn an nghỉ tại Suối Dầu, Nha Trang, trong lòng nhân dân, năm 1943. Dù trước kia Pasteur đã nhận định về ông: "Đây sẽ là một nhân tài đem lại vinh quang cho nước Pháp" nhưng ông không thể ở lại Paris với tất cả những điều kiện thuận lợi sẵn có. Ông là nhà khai phá, sẵn sàng dấn thân vào những công cuộc tìm kiếm khó khăn nhất, và ông đã thành công.

Người kế nhiệm ông tại trường Y Đông Dương là bác sĩ Cognacq (1904 - 1921), tiếp đó là bác sĩ Degorce (1922 - 1929 về hưu), Le Roy des Barres (5.1929 đến 1935), H. Galliard (1935 - 1945). Trong thời kỳ Hà Nội bị tạm chiếm (1947 - 1954) là P. Huard và trường Y Sài Gòn (1947-1954) là Massias. Nhiều người trong số họ có vợ Việt Nam và rất có cảm tình với sinh viên Việt Nam.

Tuy vậy, những mục tiêu và chuẩn mực nhân văn mà Yersin tạo nên không dễ gì xoá bỏ được. Trong báo cáo kiểm tra các hoạt động của nhà trường ngày 15.12.1906, thanh tra Clavel, một mặt hoan nghênh chương trình cải tiến đã loại bỏ được những môn học không cần thiết nhưng mặt khác lại than phiền về trình độ quá chênh lệch của học sinh và yêu cầu mở lại lớp dự bị. Cuối cùng, báo cáo vẫn kết luận: "Đề nghị gửi số học sinh xuất sắc nhất sang Pháp thi bác sĩ Y khoa và thử sức với sinh viên Pháp qua kỳ thi. Chắc chắn họ sẽ làm nên chuyện và trường Y khoa Đông Dương sẽ không phải xấu hổ".

Khoá đầu tiên chỉ có 5 người tốt nghiệp năm 1907 (nghĩa là sau 5 năm, lý do có thể là họ đã qua khoá nội trú 2 năm, sau khi học xong chương trình chính thức 3 năm) và được phân phối về các tỉnh. Khai giảng có 29 người, cuối năm chỉ 15 người lên lớp, kết cục còn 5, ta có thể hiểu sự chọn lọc là khắt khe và đòi hỏi cao như thế nào, từ đó có thể suy ra chất lượng của những "ông cử" mới ra trường. So với thời còn học chữ nho, thi hương tổ chức ba năm một lần cũng chỉ lấy dỗ được 20 - 25 ông cử mỗi khoá, tức là bình quân đào tạo 8 ông cử mỗi năm. Những nơi tiếp nhận thoạt tiên tỏ vẻ không tin tưởng lắm, tuy nhiên thực tế công tác đã chứng minh năng lực của những y sĩ mới ra trường này.
Nhưng rồi mọi việc đã diễn biến không trôi chảy.

Khi phong trào nông dân chống thuế dấy lên ở các tỉnh Trung Kỳ năm 1908, nhà cầm quyền thực dân đã đổ riệt trách nhiệm lãnh đạo cho tầng lớp sĩ phu đang chủ trương duy tân, mặc dù không hề có bằng chứng. Kẻ đang lăm le xoá bỏ cựu học, truyền bá tân học lại sợ chính cái mà mình định truyền bá vào (!). Tác giả người Mỹ, Helen B.Lamb đã nhận xét rất có lý là suốt thời kỳ thống trị Việt Nam, người Pháp luôn luôn sống trong lo sợ, đó là lý do tại sao họ luôn phải dùng những hình thức đàn áp mang tính chất khủng bố (H.B.Lamb: The Vietnam's will to live.- New York, 1972). Cũng phải thấy rằng sĩ phu nước ta đã thích ứng rất nhanh với tình hình. Từ chỗ chống đối tân học, họ đã mau chóng nhận thấy tân học chính là con đường cứu nước nên đã phát động phong trào duy tân và Đông du (chủ yếu là sang Nhật). Cơ quan hoạt động công khai của văn thân lúc đó là trường Đông Kinh Nghĩa Thục.

Năm 1908, toàn bộ nền giáo dục tân học mới phôi thai đã bị đàn áp. Trường Đông Kinh Nghĩa Thục bị đóng cửa cùng nhiều trường khác. Đặc biệt, trường Y Đông Dương, một lần nữa lại bị giáng cấp thành trường Y khoa Hà Nội trực thuộc Thống sứ Bắc Kỳ. Khi quyền lợi thực dân bị đe doạ thì mọi lời hoa mỹ về văn minh, khai hoá biến mất tức khắc. Sắc lệnh ngày 18.3.1909 của tổng thống Pháp A. Fallière được qui định chi tiết thi hành theo nghị định ngày 6.8.1909 của toàn quyền Đông Dương A.Klobukowski, theo đó một hội đồng giáo dục (Conseil de perfectionnement) được thành lập để nghiên cứu những vấn đề hoạt động và phát triển của nhà trường, thực tế là để trực tiếp giám sát và chỉ đạo mọi hoạt động của trường. Đứng đầu hội đồng là viên Thống sứ Bắc Kỳ, ngoài ra còn có:
- Viên giám đốc Nha Y Tế Bắc Kỳ,
- Một viên tỉnh trưởng,
- Hiệu trưởng nhà trường,
- Giám đốc bệnh viện Bản xứ (tức bệnh viện thực hành),
- Một giảng viên (chargé de cours),
- Một thầy thuốc thuộc sở Y Tế và
- Một thầy thuốc làm thư ký.

Hội đồng phải họp ít nhất mỗi năm hai lần, theo triệu tập của chủ tịch, vào dịp chuẩn bị ngân sách và dịp khai trường. Ngoài ra, hầu như mọi việc (cử hiệu trưởng, chuẩn bị ngân sách, chương trình học và thi cử, lựa chọn giảng viên và mọi thay đổi trong qui chế tổ chức nhà trường...) đều bắt buộc phải hỏi ý kiến Hội đồng. Quyền hạn hiệu trưởng bị thu hẹp đến tối thiểu. Chỉ tiêu tuyển sinh cũng bị thu hẹp. Suất học bổng hàng năm được qui định là 4 suất cho người An nam, 1 suất cho người Cao miên và 1 suất cho người Lào. Tỷ lệ chiêu sinh giữa số không được học bổng/số được học bổng sẽ do Thống sứ Bắc Kỳ quyết định từng năm.

Chính Nha Học Chính Đông Dương sau này, trong báo cáo giới thiệu trường Y khoa tại Triển lãm Thuộc địa tại Paris năm 1931 đã phải thừa nhận: "Dưới chính quyền mới, một giai đoạn ngừng trệ đã tác động lên toàn bộ nền giáo dục nói chung - bị chụp mũ một cách đáng tiếc là tác giả thực sự của phong trào cách mạng 1908. Cái trạng thái tinh thần đáng buồn đó, hiện vẫn chưa hoàn toàn mất đi, đã làm chậm sự phát triển của trường mất 10 năm" (Trường Y Dược toàn cấp Đông Dương - Hanoi, 1931: tr 9-10). Báo cáo đó còn nói thêm: "Sắc lệnh ngày 18 tháng Ba 1909 giảm số biên chế, bãi bỏ khoa quân y coi như không cần thiết, giảm số học sinh (6 người mỗi năm) và đặt trường dưới quyền Thống sứ Bắc Kỳ. Đó là làm cho trường trở thành một trường Y tá chỉ có lợi ích địa phương, bất kể việc đã gửi sang Pháp các học sinh xuất sắc nhất của mình. Mặc dù vậy, tuy bị biến đổi trường vẫn tồn tại bởi sức mạnh của những điều hữu ích" (Sách đã dẫn, trang 10).

THỜI KỲ ỔN ĐỊNH VÀ PHÁT TRIỂN

Dẫu sao, sai lầm cũng đã được ngấm ngầm thừa nhận hay nói đúng hơn, sau khi đã "hoàn hồn", thì chính hội đồng giáo dục đã nâng dần số tuyển sinh trong thời kỳ ngừng trệ đó lên 20 học sinh mỗi năm. Hệ thống giáo dục phổ thông dần dần phát triển, trường Trung học Bảo hộ (trường Bưởi) được thành lập năm 1907, đến nay đã có thể cung cấp lớp học sinh tốt nghiệp phổ thông cơ sở cho nhà trường, vì vậy, tiêu chuẩn văn hoá khi tuyển sinh cũng được nâng cao dần: học sinh phải tốt nghiệp bậc Cao Đẳng Tiểu Học (tương đương lớp 9 bây giờ) trở lên mới được nhận - giống như 40 năm sau (1948-1965), các trường trung cấp của nước Việt nam độc lập cũng tuyển sinh ở trình độ này. Năm 1911, Albert Sarraut sang nhậm chức toàn quyền Đông Dương lần thứ nhất (1911-1914). Người Pháp đánh giá rất cao viên toàn quyền này, coi ông ta là người đã chấn hưng nền giáo dục Đông Dương và trường Y Đông Dương được hưởng lợi trước tiên (tên ông ta được đặt cho một trường trung học và đại lễ đường trường Đại học Hà Nội). Sắc lệnh ngày 28 tháng 6 năm 1913 của tổng thống Pháp, được qui định chi tiết thi hành trong nghị định ngày 29 tháng chạp 1913 của toàn quyền Đông Dương, đã bãi bỏ sắc lệnh 18 tháng Ba 1909, đặt lại tên trường là trường Y khoa Đông Dương trực thuộc toàn quyền Đông Dương. Bằng tốt nghiệp sẽ do Toàn quyền Đông Dương ký, bên cạnh có chữ ký của tổng Thanh tra Y tế Đông Dương và Hiệu trưởng nhà trường. Học sinh được phân công công tác theo quyết định của Toàn quyền Đông Dương. (Đây là một đặc thù của ngày đó: vì bằng tốt nghiệp là bằng quốc gia nên phải do người cao nhất, đại diện cho quốc gia ký. Mặt khác, vì trường Y Đông Dương trực thuộc phủ toàn quyền nên học sinh tốt nghiệp cũng phải do Toàn quyền trực tiếp phân công, thống sứ Bắc Kỳ không đủ quyền hạn. Ngày nay, việc công nhận tốt nghiệp và phân công là do Bộ Y Tế vì Bộ trưởng có đủ tư cách thay mặt Nhà Nước, riêng văn bằng lại do hiệu trưởng ký).

Nghị định 29 tháng Chạp 1913 qui định tiêu chuẩn tuyển sinh: học sinh phải có bằng tốt nghiệp Cao đẳng Tiểu học (tương đương tốt nghiệp phổ thông cơ sở ngày nay) hoặc chứng chỉ tốt nghiệp trường Chasseloup-Laubat (một trường trung học nổi tiếng ở Sài Gòn) hoặc tú tài bản xứ (tương đương tốt nghiệp lớp 12 hiện nay), tuổi không quá 25 tính đến ngày 1 tháng 1 năm sau ngày nhập trường, phải có sức khoẻ tốt và lý lịch tốt. Thí sinh có bằng tú tài chính quốc 10 (baccalauréat métropolitain, thường được gọi tắt là Bacc Métro, hay Tú tài “tây”) sẽ được theo học khoa toàn cấp, sau này ra bác sĩ hoặc dược sĩ hạng nhất. Chỉ tiêu tuyển sinh hàng năm sẽ do Toàn quyền Đông Dương quyết định (đây là một bước tiến, vì sắc lệnh 18 tháng Ba 1909 qui định do Thống sứ Bắc kỳ quyết định). Học sinh được ưu đãi hơn. Tất cả được hưởng chế độ nội trú không mất tiền (đừng nhầm với chế độ ngoại trú và nội trú của chương trình đào tạo ngành Y) và được học bổng: 5 đồng/tháng cho học sinh năm thứ nhất, 6 đồng/tháng cho năm thứ hai và 8 đồng/tháng cho hai năm cuối; ngày trực được ăn không mất tiền tại bệnh viện. Học sinh còn được miễn thuế thân và quân dịch. Ngoài ra, vào dịp nghỉ hè, học sinh được hưởng tiền tầu xe đi và về tới một địa điểm bất kỳ của Đông Dương, còn được chữa bệnh không mất tiền tại bệnh viện Bảo Hộ.
Tuy nhiên, họ cũng phải ký cam kết sẽ làm cho nhà nước ít nhất 10 năm sau khi ra trường. Ai vi phạm, sẽ phải bồi hoàn phí tổn đào tạo cho Kho Bạc.

Về chương trình học, nghị định đã đưa ra chương trình 4 năm như sau:
Năm thứ Nhất

Giải phẫu mô tả (cốt học, khớp học, cơ học, mạch học)

Phẫu tích.

Triệu chứng học thực hành

Tiểu phẫu thuật - Dụng cụ học (Instrumentation)

Thực tập bệnh viện

Năm thứ Hai

Giải phẫu mô tả (tạng học, thần kinh, giác quan)

Phẫu tích

Sinh lý học

Bệnh học nội

Bệnh học ngoại

Triệu chứng học

Vệ sinh học

Tiểu phẫu thuật - Dụng cụ học

Thực tập bệnh viện

Năm thứ Ba

Giải phẫu định khu

Bệnh học nội

Bệnh học ngoại

Bệnh học nhiệt đới

Sản khoa

Vệ sinh học - Các biện pháp phòng bệnh truyền nhiễm

Dược học - Thực hành - Chế độ liều lượng (Dosage)

Nội khoa lâm sàng

Ngoại khoa lâm sàng

Sản khoa lâm sàng

Thực tập bệnh viện

Năm thứ Tư

Bệnh học nội

Bệnh học ngoại

Bệnh học nhiệt đới

Sản khoa

Vệ sinh học - Các biện pháp phòng bệnh truyền nhiễm

Dược học - Thực hành - Chế độ liều lượng

Các khái niệm thực hành về nha khoa

Nội khoa lâm sàng

Ngoại khoa lâm sàng

Sản khoa lâm sàng

Thực tập bệnh viện

Điều 24 của nghị định còn nói rõ: các khoa lâm sàng cho học sinh thực tập được đặt dưới quyền hiệu trưởng nhà trường

Chương trình lần này đã khác với thủa ban đầu, các môn cơ sở đã được loại bỏ vì trình độ học sinh phổ thông đã cao hơn, và không cần học qua lớp dự bị nữa. Riêng chương trình chuyên môn Y đã tương tự như chương trình đại học sau này: vẫn 3 năm học giải phẫu, 2 năm thực tập phẫu tích, học triệu chứng học và đi thực tập bệnh viện ngay năm đầu

Chiến tranh thế giới lần thứ nhất là dịp chứng tỏ phẩm chất của học sinh y khoa Đông Dương qua thực tế công tác tại các đơn vị quân đội và tại bệnh viện Đông Dương ở Marseille (Pháp). Chúng ta cũng có thể thấy vị thế của trường Y Đông Dương: mỗi lần nâng cấp, hạ cấp đều phải do tổng thống Pháp quyết định, tiêu chuẩn văn hoá để tuyển sinh cũng tăng dần theo từng bước phát triển của nền giáo dục phổ thông. Năm 1917, mười lăm năm sau khi thành lập, lần đầu tiên có học sinh tốt nghiệp tú tài nhập học. Đến khi bậc học phổ thông phát triển đầy đủ thì trường cũng trở thành một trường đại học hoàn chỉnh về qui mô và trưởng thành về chất lượng đào tạo. Đến đây, ước mơ ban đầu của Yersin đã được thực hiện

Nghị định ngày 20 tháng Bảy 1914 đã đặt thêm khoa Dược học 3 năm, từ đó, trường mang tên trường Y Dược khoa Đông Dương. Việc giảng dạy do các giáo sư chính thức và các giảng viên dược sĩ dân y và quân y đảm nhiệm.

Chương trình học ba năm được phân chia như sau:
Năm thứ Nhất (trong ngoặc đơn là số giờ học mỗi tuần)
Lý thuyết: Vật lý (1) - Hoá học (3) - Động vật học (2)Thực vật học (2)- Hoá vô cơ (1)
Thực tập: Vật lý (2) - Hoá học (2) - Đông vật học (3)Thực vật học (3) - Hoá vô cơ (2)
Năm thứ Hai
Lý thuyết:

Y Vật lý - Dược thực vật - Hoá hữu cơ -Dược liệu - Hoá phân tích - Thảo dược

Độc chất học - Thuỷ văn học - Pháp chế - (mỗi môn đều có 1 giờ mỗi tuần)

Thực tập:

Y Vật lý - Hoá hữu cơ - Dược liệu

Thảo dược - Hoá dược - Hoá phân tích (mỗi môn đều có 2 giờ mỗi tuần)

Năm thứ Hai đi thực tập bệnh viện về Dược

Năm thứ Ba
Lý thuyết: Hoá hữu cơ - Dược liệu - Hoá phân tích - Thảo dược - Độc chất, Thuỷ văn học và Pháp chế (mỗi môn đều có 1 giờ mỗi tuần)
Thực tập:

Hoá hữu cơ - Dược liệu - Thảo dược - Hoá dược - Hoá phân tích - Hoa sinh (mỗi môn đều có 2 giờ mỗi tuần)

Năm thứ Ba đi thực tập bệnh viện về Dược

Thực tập tại labô Vệ sinh và chống hàng lậu (3 tháng)

Năm 1917, khoá dược sĩ Đông Dương đầu tiên ra trường, có 4 người. Từ đó đến năm 1930, tổng số có 48 dược sĩ Đông Dương ra trường, khoá nhiều nhất có 6 người và ít nhất có 2 người.

Khoa toàn cấp (đại học) Dược hoạt động theo những qui định trong các nghị định ngày 28 tháng Bảy 1909 và 30 tháng Tám 1923 của Toàn quyền Đông Dương (về tiêu chuẩn tuyển sinh và tốt nghiệp). Năm tập sự của sinh viên được tiến hành tại các cửa hàng Dược được uỷ nhiệm của Tổng giám đốc Nha Học chính Đông dương, theo đề nghị của hiệu trưởng nhà trường. Đây là những cửa hàng dược đủ tiêu chuẩn, có pha chế theo đơn của thầy thuốc. Trong trường hợp không có điều kiện thực hiện tập sự tại cửa hàng Dược thì sinh viên có thể xin tập sự ở một bệnh viện có khoa Dược do một dược sĩ người Pháp làm chủ nhiệm. Sinh viên sẽ ghi tên xin tập sự tại văn phòng nhà trường.

Sau khi qua được kỳ thi kiểm tra năm tập sự, sinh viên theo học 4 năm nữa theo đúng như thể thức ở chính quốc. Các kỳ thi kiểm tra của năm tập sự, các năm thứ Nhất, thứ Hai, thứ Ba và hai kỳ kiểm tra năng lực (examens probatoires) đầu tiên được tiến hành ở Đông Dương. Kỳ thi kiểm tra năng lực thứ ba và kiểm tra năm cuối cùng được tiến hành tại Pháp, nếu qua được, sẽ nhận bằng tốt nghiệp Dược sĩ hạng nhất (đại học).

Vì nền công nghiệp Dược của Đông Dương không phát triển nên số sinh viên theo học khoa Dược là rất ít, so với khoa Y. Ví dụ như trong năm học 1930 - 1931, toàn khoa Dược chỉ có 5 sinh viên. Ngày trước, tốt nghiệp Dược dược sĩ thường mở ngay hiệu thuốc để kinh doanh, hầu nhưkhông có ai học tiếp để thi tiến sĩ Dược khoa (tương đương bác sĩ Y khoa). Đến nay là chưa tìm được số liệu về Dược sĩ cao cấp đã tốt nghiệp.

Bệnh viện Mắt được thành lập theo nghị định ngày 14 tháng Bảy năm 1915 của Thống sứ Bắc Kỳ và chính thức mở cửa ngày 16 tháng Tư năm 1916 ở phố Résident Miribel (nay là phố Trần Nhân Tông). Bệnh viện này được trang bị rất nghèo nàn vì theo lời phán nàn của người giám đốc đầu tiên, bác sĩ Bargy: "người ta định cho nó chết yểu", nhưng những kết quả ban đầu lại rất khích lệ (có thể hiểu điều này, vì vùng nông thôn Bắc Kỳ là ổ dịch đau mắt hột, cho tới nay vẫn chưa thanh toán triệt để được).Nghị định ngày 7 tháng Bảy 1917 nâng cấp bệnh viện Mắt Hà Nội thành Viện Nhãn khoa Đông Dương và đặt trực thuộc trường, với giám đốc là một giáo sư của trường. Kể từ ngày đó, viện này vừa hoạt động như một cơ quan của ngành Y tế điều trị miễn phí cho nhân dân, vừa là trung tâm giảng dạy nhãn khoa củatrường Y Dược khoa toàn cấp Đông Dương. Năm 1925, bệnh viện được mở rộng ra hai bên với mặt trước được xây dựng lại thành phòng khám, phía sau, thẳng góc với nó là một hành lang dẫn tới các phòng mổ và phòng học. Tại đây, các bác sĩ và y sĩ Đông Dương tương lai sẽ tiếp thu được những khái niệm rất cần thiết về nhãn khoa để hành nghề ở Đông Dương.

Thoạt tiên, người ta cho 2 học sinh năm thứ Tư tách hoàn toàn cho bệnh viện Mắt với ý định cho học một chuyên khoa sâu nhưng thấy bất lợi nên lại thay bằng cho cả lớp năm thứ Tư mỗi tuần đến Viện Mắt một lần để nghe giảng lâm sàng. Sau nhiều lần thử, cuối cùng người ta chọn giải pháp cho từng tổ học sinh, bất kể là năm thứ Ba hay thứ Tư đi luân khoa trong 3 tháng. Kết quả đã được chứng minh là rất tốt.

Khoa thú y được tách thành trường Thú Y độc lập. Môn Pháp Y được đưa vào từ 1919. Nghị định ngày 4 tháng Bảy 1920 tái lập khoa quân y đã bị bãi bỏ năm 1909 nhưng sau, do điều kiện quá ngặt nghèo (học sinh thi ra trường không đạt sẽ phải đăng lính 5 năm với chức vụ là y tá) nên từ 1925, không có học sinh nào ghi danh tham gia nữa.

Nghị định ngày 7 tháng Giêng 1919 sáp nhập chứng chỉ Lý-Hoá-Sinh (PCN: Sciences physiques, chimiques et naturelles) vào trường Y Đông Dương giống như ở chính quốc và bằng tốt nghiệp có giá trị tương đương: đó là bước đầu tiên trong việc kiến tạo một nền giáo dục đại học của Đông Dương tương đương như chính quốc. Kể từ đây, phải có chứng chỉ PCN mới vào được đại học Y. Khi trường Cao Đẳng Khoa học được thành lập thì chứng chỉ này chuyển sang đó và tách thành PCB (Physiques-Chimie-Biologie: Lý-Hoá-Sinh) để vào học trường Y và SPCN (Sciences physiques, chimiques et naturelles: Lý-Hoá-Tự nhiên) để học trường Cao Đẳng Khoa học. Chứng chỉ PCB còn được áp dụng tại trường Y Hà Nội cho tới năm học 1954-1955. Ngoài trường Y Dược, các trường cao đẳng khác trong thành phần của Viện Đại học Đông Dương vẫn chỉ mang tính chất trường chuyên nghiệp. Mãi đến năm 1941, do tình hình chiến tranh làm Đông Dương tách rời khỏi chính quốc, các trường Luật, Khoa học rồi đến Cao đẳng Nông Lâm, Cao đẳng Công chính mới dần dần trở thành nơi đào tạo đại học, cấp bằng kỹ sư và cử nhân luật, cử nhân khoa học, nhưng không đủ thẩm quyền cấp bằng tiến sĩ như trường Y.

Chứng chỉ PCNđã nâng cao trình độ cơ bản, nên nhà trường tổ chức lại theo sắc lệnh ngày 18 tháng Năm 1921. Năm học 1920-1921, học sinh tốt nghiệp tú tài phần 2 vào trường Y bắt đầu học PCN, nhưng từ năm học sau (1921-1922), sinh viên vào Y phải có chứng chỉ PCN trước đã. Đây là một bước nhảy vọt về chất lượng tuyển sinh.Năm học 1921-1922, lần đầu tiên có hai sinh viên tốt nghiệp PCN vào học là các ông Đặng Vũ Lạc và Hoàng Thụy Ba. Cả hai đã bảo vệ luận án tại Paris và tốt nghiệp năm 1927. Trường hợp ông Đặng Vũ Lạc là tiêu biểu cho lớp thanh niên chuyển từ "mực tầu, giấy bản" sang cầm bút sắt. Ông đã dự kỳ thi Hương cuối cùng năm 1915 tại Nam Định vào được đến tam trườngmới quay sang tân học và thi đỗ tú tài, rồi PCN.Sau này, ông Đặng Vũ Lạc đã thành lập một bệnh viện tư nhân lớn nhất Đông Dương thời đó, (dân gian chỉ gọi bằng tên: Nhà thương Đốc tờ Lạc) lấy chỗ làm việc cho nhiều bác sĩ Việt Nam không làm cho chính quyền Bảo Hộ, trong đó có bác sĩ Phạm Hữu Chí, một người tốt nghiệp vào loại xuất sắc ở trường Y Paris nhưng không được nhận vào trường Y Hà Nội do kỳ thị dân tộc của nhà cầm quyền thực dân. Bác sĩ Phạm Hữu Chí không may mất sớm mấy năm sau đó. Bác sĩ Đặng Vũ Lạc cũng mất sớm khi còn khá trẻ, riêng bác sĩ Hoàng Thụy Ba công tác tại Viện Bảo vệ Bà Mẹ - Trẻ Sơ sinh ở Hà Nội cho tới sau giải phóng miền Nam mới nghỉ hưu năm 73 tuổi và mất năm 93 tuổi.

Sau hai năm chuẩn bị, trường được tổ chức lại hoàn toàn theo Sắc lệnh ngày 30 tháng Tám 1923: được nâng lên thành Trường Y Dược toàn cấp Đông Dương ( école de Plein Exercice: còn gọi là Trường Kiêm Bị) giống như của chính quốc, có thêm khoa y sĩ và dược sĩ Đông Dương. Tất cả những qui chế mới này đã đưa tới việc xây dựng các bộ môn Mô học, Giải phẫu bệnh học, Phẫu thuật thực hành, Vi trùng học, Ký sinh trùng học, Sinh lý học và Y-hoá học - trước đó chưa có. Chương trình học nhờ tăng thêm phần thực tập chung ở các bộ môn kể trên của khoa y sĩ và khoa đại học khiến chất lượng y sĩ Đông Dương ngày càng sát gần chất lượng bác sĩ. Học sinh của trường, vì lý do gia đình hoặc lý do khác, có thể xin chuyển sang học tại các trường bên chính quốc hoặc Algérie, đặc biệt là những trường có khoa thuộc địa, và sinh viên các khoa y học nhiệt đới của Pháp cũng có thể chuyển sang học trường Đông Dương.

Khung cán bộ của thời kỳ cuối những năm 1920 bao gồm:  
BS. DEGORCE Ngoại lâm sàng
BS. LE ROY DES BARRES Sản phụ khoa lâm sàng
BS. COPPIN (Sau khi BS Coppin mất, BS Polidori thay) Nội lâm sàng
BS. CASAUX (chuẩn bị về hưu năm 1930) Lâm sàng Nhãn khoa
BS. DE RAYMOND Bệnh Ngoài da và Hoa liễu
BS. NAUDIN Lâm sàng cơ sở
BERNARD (Thạc sĩ Vật lý) Vật lý và Hoá học
BOURRET (tiến sĩ khoa học, cộng tác viên Viện Bảo tàng) Động vật học
PETELOT (cử nhân khoa học, cộng tác viên Viện Bảo tàng) Thực vật học


TRANG 2

Bệnh viện thực hành được chú trọng xây dựng cùng với trường ngay từ ngày đầu ở ấp Thái Hà. Năm 1904, bệnh viện Nhà Chung (Hôpital de la Mission) của Hội Truyền giáo được chuyển thành Bệnh viện Bản xứ (Hôpital indigène) và sau thành bệnh viện Bảo hộ (Hôpital du Protectorat, dân gian quen gọi là Nhà thương Phủ Doãn) là cơ sở thực hành đa khoa của học sinh. Bệnh viện gồm hai khu, cách nhau qua đường Borgnis-Desbordes, trước kia là đường Camps des Lettrés (phố Tràng Thi ngày nay). Khu phía Bắc đường là khu chính, khu phía Nam là nhà Carmel cũ (nay là khu Viện Bảo vệ Bà mẹ-Trẻ em) được sử dụng làm nơi giảng dạy nữ hộ sinh và khoa Sản-Phụ. Ngày 1 tháng Tư năm 1904, chính quyền Bảo hộ Bắc Kỳ chính thức mua lại nhà, đất và trang bị của Bệnh viện Bản xứ và nghị định ngày 13 tháng Mười năm 1904 tổ chức lại bệnh viện trên cơ sở mới. Các khoa lâm sàng được đặt dưới quyền bác sĩ Cognacq, hiệu trưởng trường Y Đông Dương. Bác sĩ Le Roy des Barres được cử làm giám đốc bệnh viện. Các giáo sư, giảng viên và sinh viên đảm nhiệm công tác tại bệnh viện, bác sĩ Lafaurie được chỉ định làm thường trú.

Ngày đó bệnh viện có 354 bệnh nhân, mọi bệnh nhân của bệnh viện thực hành trước đây đều được chuyển sang bệnh viện Bảo Hộ. Năm 1905, trại phong Tế Trường được sáp nhập vào bệnh viện nhưng đến 1912 lại tách ra và sáp nhập vào hệ thống các trại phong. Năm 1928 xây dựng khu nhà mổ hiện đại.

Theo sắc lệnh ngày 30 tháng Tám năm 1923, bệnh viện Bảo Hộ trở thành bệnh viện thực hành của trường Y nên chức vụ giám đốc bắt buộc phải do một giáo sư của trường đảm nhiệm, mặt khác, theo nghị định ngày 17 tháng Chạp năm 1923, về mặt hành chính, bệnh viện Bảo hộ vẫn là bệnh viện chính của Nha Y Tế Bẵc Kỳ. Bệnh viện Bảo hộ khi đó gồm có các khoa:

Khoa Ngoại (nam và nữ)
Khoa Sản-phụ (khu nhà Carmel cũ, ở bên kia đường)
Khoa Nội (nam và nữ)
Khoa Nội Nhi
Khoa bệnh ngoài da và Hoa liễu
Khoa bệnh Tâm thần
Khoa Ung thư
Khoa dành cho phạm nhân
Khoa điện quang và điện trị liệu
Labô vi sinh
Khoa Dược và labô hoá sinh
Khoa Khám bệnh đa khoa
Bệnh viện Bảo hộ sau này đã dần dần chuyển thành chuyên ngoại khoa.
Tổng số giường bệnh cho đến năm 1931:
Bệnh viện Bảo hộ: 583 giường
Khu Nhà Carmel cũ: 50 giường
Khu cách ly Cống Vọng: 134 giường

Viện Mắt và bệnh viện tâm thần Vôi (Bắc Giang) cũng được đặt trực thuộc trường. Khu cách ly (lazaret) Cống Vọng 13 đến năm 1932 mở rộng dần thêm thành bệnh viện René Robin, hoàn chỉnh vào khoảng năm 1940-1941 (bệnh viện Bạch Mai hiện nay). Dân gian chỉ gọi bằng một tên đơn giản: Nhà thương Cống Vọng. Vào những năm 1940, đường Thuộc địa số 1 (RC1, tức đường Giải phóng ngày nay) xuống Nhà thương Cống Vọng qua ô Đồng Lầm chỉ thuộc loại "thênh thang tám thước", hai bên là ruộng lúa và đoạn qua công viên Lênin hiện nay là hồ sen Bảy Mẫu, đầu mùa hạ đi qua có thể ngửi hương sen ngào ngạt, nhưng bệnh viện đã có kiến trúc hiện đại, thanh thoát, khác với kiểu “nhà thuộc địa” của nhà thương Bảo Hộ và khu cách ly Bạch Mai. Khu nhà tròn đang được xây dựng thành khu phẫu thuật thì phải bỏ dở vì chiến tranh thế giới thứ hai đã gần kề. Tuyến đường xe điện Yên phụ - Kim Liên có điểm kết thúc ngay trước cổng bệnh viện, rất tiện cho bệnh nhân trong thành phố xuống. Như vậy, truyền thống xây dựng bệnh viện thực hành cho trường Y đã được bắt nguồn ngay từ 1902 và duy trì liên tục qua kháng chiến chống Pháp, ngay trong những điều kiện rất gian khổ và thiếu thốn. Đáng tiếc là quyền có bệnh thực hành riêng của trường đã bị một quyết định năm 1955 của bộ Y Tế tước bỏ bằng cách đặt các bệnh viện Bạch Mai và Việt Đức trở thành trực thuộc Bộ. Hệ thống đào tạo nội trú, một đặc thù của ngành Y (hầu như trên toàn thế giới) trong rèn luyện tay nghề thực hành cho thầy thuốc, được đưa vào ngay từ những ngày đầu thành lập trường, cũng đã bị bãi bỏ một thời gian và rồi khi quay trở lại vẫn không được chính thức thừa nhận và lăm le bị thay thế bằng hệ đào tạo cao học nặng về lý thuyết như ở các ngành khác. Cố Hiệu trưởng Nguyễn Trinh Cơ đã bỏ bao tâm huyết để tái xây dựng ngành đào tạo nội trú và bệnh viện thực hành, có lẽ vì các giáo sư trường Y hiểu hơn ai hết giá trị của ngành học này.

Thời đó, bác sĩ được gọi, “đốc tờ” hay "quan đốc", thậm chí là "cụ", y tá được gọi là "thầy" và y tá cũng gọi sinh viên là "thầy" nhưng không phải với nghĩa ngày nay. Tiếng "thầy" được dùng để chỉ các viên chức cấp thấp (thầy thư ký, thầy thông, thầy đề). Riêng y công bị gọi một cách rất khinh miệt là "cu li san" (coolie des salles = lao công các phòng).

Giáo sư Hồ Đắc Di, người hiệu trưởng đầu tiên của trường Y chúng ta sang Pháp du học năm 1918, năm đó cụ tròn 18 tuổi. Khi tầu qua Địa Trung Hải vẫn còn lo vấp thủy lôi của Đức thả trong Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất. Người bảo trợ cho cụ là toàn quyền Albert Sarraut (vì thân phụ cụ Di là thượng thư Hồ Đắc Trung, một trong tứ trụ triều đình triều Duy Tân, có quan hệ cá nhân với toàn quyền). Sau khi tốt nghiệp bác sĩ y khoa, cựu nội trú các bệnh viện Paris, cụ nhớ nhà, đến đòi ông Albert Sarraut cho về nước. Ông này mách cụ xuống Marseille dự thi tuyển thầy thuốc cho Đông Dương. Năm đó (1931) có 3 người trúng tuyển là Hồ Đắc Di, Huard và Cartoux. Hai người Pháp được phân công về Hà Nội còn cụ Di về Huế theo gia đình. Khi đó bệnh viện Huế có một phẫu thuật viên người Pháp tên là Lemoine rất kém cỏi. Mỗi khi mổ xẻ, ông ta thường phải đối chiếu với át-lát giải phẫu. Cụ Di giỏi hơn nhiều mà lại không được mổ, thế là mâu thuẫn dẫn đến vác ghế đánh nhau. Dù là con quan nhưng cuối cùng thì Tây vẫn thắng, cụ Di bị đổi vào Qui Nhơn. Đang lang thang ở Qui Nhơn thì gặp giáo sư Le Roy des Barres đi công tác qua. Khi đó, ông đang là hiệu trưởng trường Y Đông Dương kiêm giám đốc bệnh viện Bảo Hộ, đồng thời là cố vấn y tế cho Toàn quyền. Cụ Di kể lại: "Ông ấy hỏi tôi: Qu'est-ce que tu fais là ? Tôi trả lời: "Je m' amuse !" (Cậu làm gì ở đây ? Tôi chơi !). Từ cuộc gặp gỡ này, giáo sư hỏi cụ có muốn về Hà Nội không, và thế là ông đã can thiệp để Toàn quyền Pierre Pasquier quyết định qua mặt khâm sứ Trung Kỳ, chuyển cụ Di ra Hà Nội (giáo sư làm được việc này vì ông rất thân với toàn quyền). Tất nhiên là khâm sứ Trung Kỳ rất tức tối nhưng không làm gì được. Trách cụ thì cụ thản nhiên trả lời: việc này là do toàn quyền, tôi không biết
Ra tới bệnh viện Bảo Hộ, cụ gặp cụ Vũ Đình Tụng khi đó là y sĩ thường trú của bệnh viện, cụ Tụng bảo cụ: "Toa ra đây làm gì, họ có cho toa mổ đâu !" "Không cho mổ thì moa lại đi" và lập tức, cụ lên gặp Le Roy des Barres để hỏi cho ra lẽ nhưng giáo sư nói: "Anh là cựu nội trú, anh có quyền mổ chứ !". Được lời như cởi tấm lòng, cụ lập tức xuống ra lệnh cho thầy y tá trưởng: "Thầy chuẩn bị cho tôi mổ bệnh nhân này". Thầy y tá tưởng mình nghe nhầm, hỏi lại: "Bẩm cụ mổ ?" - "Chứ sao" - "Cụ đã bẩm quan chánh chưa ?" - "Việc gì tôi phải bẩm, cứ chuẩn bị đi" (Kể đến đây, cụ Di cười sảng khoái: "Thật ra thì mình bẩm rồi, nói thế cho oai thôi. Sau này cụ Hồ biết chuyện, có hỏi tôi năm đó bao nhiêu tuổi. Tôi mới ngoài 30, thế là cụ Hồ gọi đùa tôi là cụ non") Thầy y tá khốn khổ bị kẹt giữa hai làn đạn, không biết kêu ai. May mà mọi chuyện đều êm đẹp và giáo sư Hồ Đắc Di trở thành người Việt Nam đầu tiên được mổ cho bệnh nhân Việt Nam ở chính trên quê hương Việt Nam !
Ngày 11 tháng Chạp năm 1943, cụ Hồ Đắc Di được phong học hàm giáo sư không bộ môn (professeur sans chaire) cùng với Cartoux và là người Việt Nam đầu tiên ở trường Y được phong học hàm này. Với một ý nghĩa nào đó, giáo sư Le Roy des Barres đã có công rất lớn với trường Y khi mang giáo sư Hồ Đắc Di về Hà Nội để sau này kế tục trường Y Đông Dương, khai sinh ra trường Y Cách Mạng trong kháng chiến chống Pháp.

Trường Y Dược toàn cấp Đông Dương được coi chính thức là chi nhánh của trường Đại học Y Paris, khi đó gồm 7 khoa (hay phân khoa):

1. Một khoa chuẩn bị thi chứng chỉ Lý-Hóa-Vạn Vật (PCN).
2. Một khoa Y toàn cấp
3. Một khoa Dược toàn cấp
4. Một khoa Y sĩ Đông Dương
5. Một khoa Dược sĩ Đông Dương
6. Một khoa cho người châu á
7. Một khoa nữ hộ sinh bản xứ.

Nghị định ngày 22 tháng Tư 1924 của toàn quyền Đông Dương M.Merlin đã qui định các chi tiết thi hành Nghị định ngày 30 tháng Tám 1923 về việc cải tổ lại trường Y Đông Dương. Lần đầu tiên, một hội đồng giáo sư được thành lập để tư vấn cho hiệu trưởng về những vấn đề tổ chức giảng dạy và qui chế kỷ luật. Hội đồng gồm các giáo sư chính thức và hai giảng viên do Giám đốc Nha Học Chính chỉ định vào đầu mỗi năm học. Một thư ký phụ tá hiệu trưởng (đúng ra phải gọi là chánh văn phòng, tương đương như phó hiệu trưởng thường trực hiện nay) được chọn trong số giáo sư chính thức với nhiệm kỳ 5 năm theo quyết định của Toàn quyền và do Giám đốc Nha Học Chính giới thiệu sau khi đã tham khảo ý kiến hiệu trưởng. Thư ký sẽ phụ trách công tác hành chính và tổ chức, giám sát và kỷ luật đối với sinh viên, phụ trách công tác bệnh viện theo chỉ định của hiệu trưởng. Thư ký lĩnh lương theo cấp bậc và được thu xếp nơi ở trong trường (theo giáo sư Vũ Công Hoè, trường còn cơ sở phố Tràng Tiền - hiện nay thuộc chỗ cửa hàng Bôđêga - là nơi ở cho một số giáo sư và cả sinh viên). Ban thư ký còn gồm hai thư ký người bản xứ biệt phái từ Nha Học Chính Đông Dương, một trong hai người kiêm phụ trách thư viện và được hưởng thêm phụ cấp đồng niên về việc này là 120 đồng.

Nghị định 22 tháng Tư 1924 khẳng định lại nhiệm vụ của trường đào tạo các đối tượng, gồm:

1. Bác sĩ y khoa và dược sĩ hạng nhất theo nghị định 30 tháng Tám 1923
2. Y sĩ và Dược sĩ Đông Dương
3. Y sĩ Quân Y
4. Y sĩ Trung Hoa
5. Nữ hộ sinh Đông Dương.

Y sĩ Đông Dương khoá cuối cùng ra trường năm 1934 (theo giáo sư Vũ Công Hoè. Cũng theo giáo sư, không có chênh lệch đáng kể về trình độ giữa bác sĩ và y sĩ Đông Dương). Sau này phần lớn y sĩ Đông Dương đã thi lấy bằng tú tài “tây” và dành ra 2 năm để bổ túc một số môn và làm luận án tốt nghiệp bác sĩ Y khoa. Lớp y sĩ cuối cùng ra trường năm 1934 vào trường và cùng học với giáo sư Vũ Công Hoè (giáo sư Hoè ra trường năm 1937, bác sĩ Trương Cam Cống học trên giáo sư Hoè 4 lớp và bác sĩ Phạm Ngọc Thạch học trên giáo sư Hòe 3 lớp và là khoá cuối cùng phải sang Pháp làm luận án). Số y sĩ được đào tạo từ trường Y Đông Dương kể từ khoá ra trường đầu tiên năm 1907 đến khoá năm 1930 là 294 người (chưa có số liệu ra trường các năm từ 1931 đến 1934).

Nghị định cũng qui định chi tiết chương trình học, số giờ mỗi tuần của một môn và qui định chương trình thi tốt nghiệp. Trong bước đầu đặt hệ nội trú, nghị định có qui định tuyển chọn hàng năm 4 sinh viên làm trợ lý giải phẫu, sinh lý, mô-giải phẫu bệnh học và dược học. Trợ lý giải phẫu được phụ cấp hàng tháng 15 đồng, các trợ lý khác được 10 đồng. Hàng năm tổ chức thi tuyển trong số sinh viên năm thứ 3 và 4 (chung cho mọi chuyên khoa) lấy 3 trưởng phòng của bệnh viện Bảo Hộ (2 phòng ngoại khoa và 1 phòng nội khoa). Các sinh viên được chỉ định có trách nhiệm làm bệnh án và thực hiện điều trị, ngoài ra còn hướng dẫn lâm sàng cho sinh viên lớp dưới và được hưởng phụ cấp mỗi tháng 10 đồng.

Chế độ nội trú đã có ngay từ khi thành lập trường, theo nghị định ngày 28 tháng Bảy năm 1902. Sau này, chế độ nội trú được thực hiện đầy đủ hơn. Sinh viên năm thứ ba thi ngoại trú và sinh viên năm thứ 5 thi nội trú. Chỉ sinh viên ngoại trú và nội trú mới có quyền điều trị, số không trúng tuyển vào chế độ "trú" thì như giáo sư Nguyễn Trinh Cơ thường gọi đùa, là "những linh hồn lang thang ngoài hành lang" (Les âmes errantes du couloir). Tất cả các thầy thuốc giỏi của ta sau này đều đã trải qua một thời gian làm nội trú và có thầy, như thầy Tôn Thất Tùng, đã tỏ ra nổi bật ngay từ thời kỳ làm nội trú. Vì vậy, danh hiệu "cựu nội trú" rất được tôn trọng, trên danh thiếp, thường danh hiệu "cựu nội trú các bệnh viện" được đặt trên danh hiệu "bác sĩ y khoa".
Hàng năm, kỳ thi ngoại trú và nội trú được tổ chức với số tuyển chọn không nhất định, tuỳ theo số chỗ còn trống ở bệnh viện. Ngoài phần thi lý thuyết, sinh viên được giao bệnh nhân và làm bệnh án dưới sự giám sát của giám thị. Sau đó giám thị thu lại bệnh án. Ngày hôm sau, trước hội đồng thi, sinh viên đọc lại bệnh án của mình dưới sự giám sát của sinh viên kế tiếp, nghĩa là không có quyền sửa đổi lấy một chữ. Cách kiểm tra chéo như vậy bảo đảm được tính nghiêm minh và công bằng của cuộc thi. Sau khi có danh sách trúng tuyển, người đỗ đầu được chọn chỗ chuyên khoa trước, thứ mới đến người sau. Vì vậy những chuyên khoa "nổi tiếng" hoặc "hái ra tiền" không bao giờ đến tay các anh đỗ hạng kém, tuy kém của nội trú vẫn còn hơn không nội trú.

Các giáo sư người Pháp được trả lương rất cao do có phụ cấp khu vực (lương bên thuộc địa gấp đôi lương ở chính quốc). Giáo sư bậc khởi điểm (bậc 5) có lương đồng niên kể cả phụ cấp thuộc địa gấp 3 lần lương Y sĩ Đỗ Xuân Hợp thời đó (như vậy, nếu so với lương bên Pháp thì khởi điểm của giáo sư chỉ hơn lương y sĩ Đỗ Xuân Hợp có 1,5 lần), còn khởi điểm của giáo sư bậc 1 thì gấp 4,5 lần. (5981,92 và 8617,56 đồng so với 1944 đồng, trong khi giá vàng khoảng 50 đồng một lạng - Theo Lê Gia Vinh, sách đã dẫn, tr 24 + tư liệu trường Đông Dương).

Nghị định cũng qui định phụ cấp giảng dạy cho những giảng viên không hưởng lương giáo sư, hay phụ giảng chính thức, là 8 đồng cho một giờ lý thuyết và 6 đồng cho một buổi thực tập 2 giờ. Đến giai đoạn này, sinh viên năm thứ nhất khoa đại học không hưởng học bổng mà phải đóng lệ phí mỗi học kỳ 3 tháng là 19 đồng, gồm cả tiền thư viện 1 đồng và tiền thực tập 6 đồng. Như vậy hàng năm mất 76 đồng, cộng thêm 26 đồng tiền lệ phí thi, thành 102 đồng, những năm sau là 98 đồng. Năm cuối cùng sang Pháp bảo vệ luận án phải đóng tiền thi 165 francs, luận án và văn bằng 240 francs, cộng 405 francs (thời đó 1 đồng Đông Dương ăn 8,25 francs, như vậy mất khoảng 50 đồng Đông Dương nữa).

Thư viện thời kỳ này được gộp chung với thư viện Viện Đại học trong một phòng rộng, đối diện Đại Giảng đường, tới cuối những năm 1950 mới tách riêng thành Thư viện Đại học Y Dược. Sau khi tách riêng hai trường (Y và Dược) năm 1962, thư viện Đại học Y được tổ chức thành hai đơn vị riêng biệt là Viện Thông tin-Thư viện Y học Trung ương và thư viện Đại học Y Hà Nội.

Trước năm 1935, sinh viên chỉ học hết năm thứ Tư thì sang Pháp thi nốt năm thứ Năm và bảo vệ luận án tốt nghiệp. Từ 1935 trở đi, khi giáo sư thạc sĩ Henri Galliard, giáo sư trường Đại học Y khoa Paris sang nhậm chức hiệu trưởng, các giáo sư bắt buộc phải có bằng thạc sĩ nên các chủ nhiệm khoa người Pháp lần lượt thay nhau về Paris thi thạc sĩ và cũng từ đó, trường Paris hàng năm cử một giáo sư sang chủ trì luận án. Các giáo sư từ Paris sang chủ trì việc bảo vệ luận án, như giáo sư Lemaitre, đã gọi trường Y Đông Dương là "cái ăng ten của nền khoa học Pháp tại Viễn Đông", đánh giá rất cao trình độ và khả năng của sinh viên trường Đông Dương, coi tương đương như tốt nghiệp từ trường Paris. Số bác sĩ sang Pháp làm luận án, kể từ khoá đầu 1921-1927 tới khoá 1928-1934 là 42 người. Khoá 1929-1935 trở đi bắt đầu bảo vệ luận án tại Hà Nội. Từ năm 1935 đến khoa thi cuối cùng của trường Đông Dương năm 1945, đã có tổng số 147 luận án được bảo vệ chính thức (không kể một số nội trú không kịp làm luận án, như Hoàng Đình Cầu, Nguyễn Thế Khánh, Phạm Gia Triệu, Nguyễn Hữu, Phạm Biểu Tâm và nhiều người khác). Người ta thấy rõ từng bước trưởng thành của trường Y Đông Dương, từ lúc chỉ đào tạo được y sĩ, rồi đào tạo bác sĩ thiếu năm cuối, phải sang Pháp thi tốt nghiệp, cho tới khi đào tạo hoàn chỉnh học vị bác sĩ tại Hà Nội. Mười sáu năm kể từ sau khoa thi Đình cuối cùng (vào năm 1919), các tiến sĩ tân khoa bắt đầu ra trường tại Hà Nội năm 1935 (nhưng trước đó 8 năm, nghĩa là sau 8 năm không có tiến sĩ kể từ khoa thi Đình năm Kỷ Mùi, đã có các tiến sĩ do trường Y Hà Nội đào tạo nhưng lại phải sang Pháp thi). Khi đó, mới chỉ có trường Y Hà Nội có khả năng cấp học vị này. Cũng lần đầu tiên, bệnh tật của nhân dân Việt Nam được nghiên cứu và trình bày một cách khoa học trong các luận án tốt nghiệp (dù thời gian đầu phải bảo vệ tại Paris nhưng tất cả các luận án đều lấy đề tài từ thực tế Việt Nam). Tóm lại, chỉ sau 8 năm gián đoạn, các tiến sĩ tân khoa lại tiếp tục ra trường, kế tục sự nghiệp của giáo dục Hán học. Ngày đó, lễ bảo vệ luận án và tốt nghiệp được tiến hành rất long trọng. Theo bác sĩ Nguyễn Hữu Thuyết, tốt nghiệp 1938, kể lại (cụ mới mất cách đây vài năm), các bác sĩ tân khoa và giáo sư trường Y đều đội mũ có 4 giải và mặc áo thụng đen.

Về sau, những người theo kháng chiến được Bộ Quốc Gia Giáo Dục cấp bằng tốt nghiệp, một số sau này bảo vệ tại trường Y trong Hà Nội tạm chiếm. Như vậy, nếu tính cả số y sĩ Đông Dương và số bảo vệ luận án ở Pháp, trường Y Đông Dương đã đào tạo ít nhất 483 người (chưa tính số y sĩ Đông Dương 4 năm sau cùng và số nội trú chưa kịp bảo vệ luận án), một con số thật ít ỏi so với nhu cầu (1 thầy thuốc cho hơn 50.000 dân) nhưng không thể trách trường Y Đông Dương. Sự phát triển giáo dục chậm chạp của thời đó phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó yếu tố quan trong nhất là chủ nghĩa thực dân không phát triển mạnh giáo dục và trình độ kinh tế thấp kém của đất nước ta dưới ách thực dân, có tới trên 90 phần trăm dân số mù chữ. Tuy nhiên để bù lại, và đây là công của trường Y Đông Dương, các bác sĩ ra trường, nhất là bác sĩ nội trú, có trình độ chuyên môn và phương pháp luận khoa học rất vững vàng, là tiền đề để sau này tự lực phát triển sau khi đã giành được độc lập.

Năm 1932, Viện Giải phẫu thuộc trường được thành lập tại địa điểm ngày nay ở phố Tăng Bạt Hổ, khi đó do bác sĩ P.Huard làm Viện trưởng kiêm chủ nhiệm bộ môn Giải phẫu. Cũng năm đó, thầy Đỗ Xuân Hợp (tốt nghiệp y sĩ Đông Dương năm 1929), được ông lấy trúng tuyển trong kỳ thi chọn trợ lý giải phẫu và được nhận về đây làm việc. Năm đó thầy Hợp mới 26 tuổi. Viện này là một cơ sở trực thuộc trường, có một gian triển lãm cổ sinh vật học rất đẹp. Huard đã cùng các cộng sự (chủ yếu là Đỗ Xuân Hợp) xuất bản 9 tập Công trình của Viện Giải phẫu thuộc trường Đại học hỗn hợp Y Dược khoa Hà Nội (Travaux de l' Institut anatomique de la Faculté mixte de Médecine et de Pharmacie de Hanoi, 9 tomes, de 1936 à 1944). Ngoài ra, ông còn là thành viên trường Viễn Đông Bác Cổ. Ông đã góp phần đào tạo nhiều nhà giải phẫu và ngoại khoa lớp trước của ta như Đỗ Xuân Hợp, Tôn Thất Tùng, Đinh Văn Thắng, Nguyễn Hữu, Phạm Biểu Tâm, v.v... Bác sĩ Huard xuất thân từ trường Quân Y bên Pháp và đã giảng dạy ở đó. ở ông có sự thẳng thắn của một quân nhân và một nhà khoa học. Năm 1947, nghe tin ngoài kháng chiến có mở kỳ thi tốt nghiệp bác sĩ Y khoa, ông đã nhắn tin chúc mừng. Có một dịp đi nhận thương binh, ông đã gửi tặng bác sĩ Tôn Thất Tùng một cây thuốc lá Cotab, một số thuốc DDT đang được ưa dùng thời đó và đề nghị thầy Tùng có yêu cầu gì về sách vở sẽ hết sức giúp đỡ.

Viện Giải Phẫu là một cơ sở trực thuộc trường cũng xuất bản được tập kỷ yếu riêng (9 tập như trên đã nói) và có một gian triển lãm cổ sinh vật học rất đẹp. Cũng năm 1932, thầy Đỗ Xuân Hợp, đã tốt nghiệp y sĩ Đông Dương năm 1929, trúng tuyển kỳ thi chọn trợ lý giải phẫu 18và được nhận về đây làm việc. Năm đó thầy Hợp mới 26 tuổi.

Giáo sư Đỗ Xuân Hợp nhớ lại: thời đó còn thanh niên ham bay nhảy, thi trợ lý giải phẫu chỉ coi như bước đi đầu tiên. Sau này, theo giáo sư Lucas Championnère khuyên, tôi đi luân khoa Tai Mũi Họng của giáo sư Sollier và định xin chuyển sang làm việc tại đó. Khi trình bày với hiệu trường Le Roy des Barres, ông đập bàn quát tôi : "tôi không thích đôi bàn tay đã mó vào xác chết lại mó vào bệnh nhân của tôi", và thế là tắt mộng đi lâm sàng, trở nên gắn bó suốt đời với nghề giải phẫu ! Kể đến đây, giáo sư phá lên cười. Cũng không nên nghĩ rằng đây là hành động áp bức của một "ông Tây". Tuổi hai người chênh lệch như cha với con (khi giáo sư Le Roy des Barres sang Đông Dương dạy học thì giáo sư Hồ Đắc Di mới lên 2 và mãi 4 năm sau, giáo sư Hợp mới ra đời). Chúng ta cũng mong được "an phận" như giáo sư Đỗ Xuân Hợp để trở thành chuyên gia giải phẫu đầu tiên của Việt Nam. Giáo sư có nhiều công trình làm chung với giáo sư Huard, một số được trích dẫn trong cuốn giáo khoa Giải Phẫu nổi tiếng của Rouvière và nổi bật nhất là cuốn "Hình thái học Người và Giải phẫu nghệ thuật" (Morphologie humaine et Anatomie artistique) được giải thưởng của Viện Hàn Lâm Pháp. Theo thông lệ thời đó, mỗi khi có công trình làm chung bởi hai tác giả Việt và Pháp, tên tác giả Pháp bao giờ cũng được để lên trên (dù người đó có là học trò tác giả Việt đi nữa, theo bác sĩ Nguyễn Hữu Thuyết). Vì vậy, xem tài liệu Pháp, bao giờ cũng là cặp tên: Huard và Đỗ Xuân Hợp. Hỏi lại thầy Hợp là ai đóng góp nhiều hơn, thầy khẳng định: bằng nhau.
Khi về làm việc tại Viện Giải Phẫu, giáo sư Hơp vẫn phải tự học để thi tú tài (thời đó nếu không có tú tài thì không thi bác sĩ được). Cuối cùng thì cũng xong, ông bảo vệ luận án năm 1944 về một đề tài rất đặc thù: "Nghiên cứu về hệ thống xương người Việt Nam". Ông là người đầu tiên nghiên cứu hệ thống các đặc điểm giải phẫu của người Việt Nam, kể cả về ngón chân Giao Chỉ, nghiên cứu cả các tác phẩm điêu khắc ở chùa chiền, đền miếu để kết tinh lại trong cuốn "Hình thái học Người và Giải phẫu nghệ thuật". Ông vừa giảng dạy tại trường Y, vừa giảng dạy tại trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương từ năm 1936 (theo Lê Gia Vinh: Con đường vinh quang.- NXB Văn hoá, 1991). Ngày đó, thầy Hợp là một trang phong lưu công tử, vừa giàu, vừa có tài. Dĩ nhiên thầy có xe hơi riêng và được cô bác sĩ Jeanne T. T. O. ở bộ môn Sinh Lý học rất ngưỡng mộ, tuy thầy đã có gia đình.
Khi trường Y về tay nhân dân, trong kháng chiến chống Pháp, giáo sư Đỗ Xuân Hợp là người đầu tiên dùng tiếng Việt trong giảng dạy ở bậc đại học và biên soạn các danh từ giải phẫu còn nguyên giá trị đến ngày nay. Ông liên tục làm hiệu trưởng trường Đại học Quân Y cho tới khi nghỉ hưu năm 72 tuổi (1978) nhưng vẫn lãnh đạo bộ môn Giải Phẫu trường Đại học Y Hà Nội và chỉ đạo Hội Hình thái học Việt Nam. Ông đã được phong quân hàm thiếu tướng quân y và được tặng danh hiệu Anh hùng các lực lượng vũ trang và giải thưởng Hồ Chí Minh.

Địa điểm 11 Lê Thánh Tông thật ra là của Đại học Luật khoa. Một địa điểm mới cho trường Y Dược toàn cấp Đông Dương cũng đã được chọn ở góc giữa hai phố Trần Thánh Tông - Trần Hưng Đạo, bên cạnh bệnh viện Đồn Thủy (ngày nay là Viện Quân Y 108) nhưng chưa kịp thực hiện thì bị tình hình chiến tranh làm gián đoạn (mới chỉ xây được Viện Giải Phẫu ở Tăng Bạt Hổ, việc xây dựng Viện Pháp Y cũng bị bỏ dở vì chiến tranh), tuy chiến tranh thực sự đến 1939 mới xảy ra. Hiện còn các cáo thị điều tra "Tiện và Bất tiện" về việc xây dựng Viện Pháp Y (tư liệu ở Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I)

Những ông thầy người Pháp của thời kỳ này, có lẽ chỉ trừ một số rất nhỏ, đều sang giảng dạy với tinh thần truyền thụ kiến thức khoa học cho học sinh, đúng theo lời thề Hippocrate. thầy Henri Coppin được học sinh quí mến vì rất giỏi lâm sàng (theo GS. Trịnh Ngọc Phan), tiếc rằng thầy qua đời sớm (1929). thầy Naudin, một cựu bác sĩ hải quân là người rất thương học sinh và thông cảm với bệnh nhân. Bác sĩ Lê Văn Khải kể lại: "Thời đó tình trạng thiếu giường nằm trong bệnh viện chưa trầm trọng lắm nên chúng tôi dễ dãi thu nhận cả những người chỉ có bệnh đói và rét. Giáo sư Naudin không phản đối, chỉ nhắc câu "Một người bề ngoài khoẻ mạnh là người có bệnh mà không biết" và ông bắt sinh viên xem lại, thế nào ông cũng tìm ra một bệnh, dù rất nhẹ, như ghẻ, giun, thiếu máu... để người ấy được nằm và ăm miễn phí một số bữa. Giáo sư Naudin ưa cho thuốc dạng bào chế" (ngày ấy, các dung dịch để uống thường không thành công thức bào chế sẵn như ngày nay nên thầy thuốc thường kê đơn 5-7 vị thuốc để phòng bào chế pha cho bệnh nhân dùng, giống như kê thang đông y). Chắc chắn nhiều bác sĩ trẻ ngày nay không biết trong "Si rô ho Bổ Phế" có những vị gì, liều lượng bao nhiêu. Dạng bào chế sẵn (officinal) thật tiện lợi, đỡ phải nhớ nhiều ! Các thầy người Pháp tuy không phải là những nhà khoa học xuất sắc nhưng họ đã thành công trong việc đào tạo một thế hệ bác sĩ Việt Nam có đủ Đức, Tài để sau này duy trì được trường Y trong kháng chiến chống Pháp và phát triển lớn mạnh như ngày nay. Các giáo sư nhà trường đã xuất bản định kỳ được 9 tập Kỷ yếu công trình kể từ năm 1936, công bố các nghiên cứu của giáo sư và bác sĩ, dược sĩ trường Y Dược khoa Đông Dương. Rất đáng tiếc là những tập kỷ yếu của trường và của Viện Giải Phẫu hiện nay đều không còn được lưu trữ tại thư viện nhà trường. Điểm qua vài ông thầy người Pháp.

Giáo sư Le Roy des Barres, hiệu trưởng trường Y (thời kỳ 1929-1935) chuyên về sản khoa và mổ rất giỏi. Những bệnh nặng không có khả năng chuyển về Pháp đều phải qua tay thầy vì vậy thầy được hầu hết các vị tai to mặt lớn kính nể. Ông chỉ có tật hay gắt nên sinh viên rất ngại phụ cho ông và chỉ có bà vợ ông (người Việt) là một nữ hộ sinh làm được việc đó. Bà biết trước những dụng cụ ông sắp cần để đưa đúng lúc và nếu ông gắt thì bà gắt lại, thậm chí đá chân qua gầm bàn vào cẳng chân ông là ông dịu ngay (Lê Văn Khải, sách đã dẫn)

Giáo sư Lucas Championnère rất giỏi ngoại khoa, gia đình có 3 đời đều là thầy thuốc danh tiếng. Ông là người điềm đạm, rất quí mến sinh viên. Ông khám bệnh rất kỹ nên chẩn đoán rất chính xác và vừa mổ, ông vừa giải thích cặn kẽ cho sinh viên phụ mổ. Giáo sư Lucas Championnère đã mất tại Hà Nội trong sự tiếc thương của sinh viên khiến chính người Pháp phải ngạc nhiên. Sau giáo sư Lucas Championnère, có giáo sư Cartoux (người cùng sang Đông Dương một lượt với các giáo sư Hồ Đắc Di và Huard) làm ngoại khoa kiêm giảng dạy môn giải phẫu. Ông rất biết ăn diện, là người đầu tiên ở Hà Nội có chiếc xe hơi kiểu thể thao và là người rất lịch sự. Ông mổ tay trái rất khéo và tận tình hướng dẫn cho sinh viên trong lúc mổ.

Các giáo sư lớp sau 1930, ngoài Huard (có công đào tạo y sỹ Đông Dương Đỗ Xuân Hợp) và Cartoux, còn có Meyer May (một người gốc Do thái, theo phe kháng chiến De Gaulle, sau năm 1946 ông sang Mỹ sinh sống), là người có công lớn đào tạo bác sĩ Tôn Thất Tùng; Gs Daléas (Sản Phụ Khoa) có công đào tạo bác sĩ Đinh Văn Thắng, rồi GS Montagné, Sollier và nhiều người khác cũng thuộc lớp này. Người Pháp rất trọng bằng cấp nên nhiều cán bộ giảng dạy thời đó đã phải về Pháp thi thạc sĩ (như nội khoa có Massias, ngoại có Mayer May, sản có Daléas, nhi có Blondel, giải phẫu có Huard...). Tuy nhiên cũng còn nhiều giáo sư khác không có bằng thạc sĩ như Toullec dạy môn Bệnh học nhiệt đới, Cartoux dạy Phụ sản, Polidori dạy nhi, Naudin dạy nội, Grenierboley dạy da liễu, Joyeux dạy mô học, Keller dạy Mắt, Sollier dạy Tai mũi họng. Giáo sư Sollier là người rất đặc biệt. Ông có tính “ăn to nói lớn”, luôn gắt gỏng với mọi người, thậm chí khi vợ ông tới khám cũng bị ông gắt gỏng như với những bệnh nhân khác. Thật ra, tuy ông gắt đấy nhưng nếu sinh viên bỏ không đến thì ông lại tìm họ xin lỗi vì tật nóng tính của mình và vui vẻ mời quay lại. Ông có bà vợ rất hiền, sinh cho ông sáu con toàn gái. Mỗi lần thấy ông bà và đàn con đi phố hay đi lễ nhà thờ, người Việt Nam nào cũng phải ngắm nhìn vì hiếm có người Pháp nào đông con như vậy. Ông đã có công đào tạo các bác sỹ tai mũi họng lớp đầu của ta như bác sĩ Vũ Hữu Hiếu bên quân Y (đã mất), giáo sư Võ Tấn, v.v. Giáo sư hiệu trưởng Henri Galliard sau này khi đã về Pháp đã tiếp tục đỡ đầu nhiều sinh viên Việt Nam du học bên đó. Ông vẫn giữ nguyên cảm tình với Việt Nam tuy từ 1946 đã thôi dạy học trường Đông Dương. Các thầy người Pháp không làm tư, nhưng sắn sàng khám giúp người nhà sinh viên. Thỉnh thoảng, do bệnh viện Saint Paul mời (từ sau 1935 mới có bệnh viện này, do các bà sơ đảm nhiệm) thì mới sang mổ.

Các thầy người Pháp tuy không phải là những nhà khoa học xuất sắc nhưng họ đã thành công trong việc đào tạo mọt thế hệ bác sĩ Việt Nam có đủ Đức, Tài để sau này duy trì được Trường Y trong kháng chiến chống Pháp và phát triển lớn mạnh như ngày nay. Các giáo sư nhà trường đã xuất bản định kỳ được 9 tập Kỷ yếu công trình kể từ năm 1936, công bố các nghiên cứu của giáo sư và bác sĩ, dược sĩ trường Y Dược Đông Dương. Rất tiếc là những tập kỷ yếu của trường và của Viện Giải Phẫu hiện nay đều không còn được lưu trữ tại thư viện nhà trường.

Từ 1935, việc bảo vệ luận án được tiến hành ngay tại trường Y Đông Dương, lúc đầu do các giáo sư từ Pháp sang chủ trì.

Năm đầu tiên bảo vệ luận án tại Hà nội có 12 bác sĩ là:

1. Lê Văn Cẩn: Góp phần nghiên cứu các trường hợp gãy xương cánh tay
2. Huỳnh Công Chiêu: Góp phần vào việc điều trị bệnh lách do sốt rét bằng liệu pháp phủ tạng lách
3. Huỳnh Tấn Đối: Góp phần nghiên cứu các hội chứng bụng cấp trong bệnh giun đũa
4. Nguyễn Trọng Hiệp: Nghiên cứu về hậu quả ngoại khoa các bệnh lỵ và viêm đại tràng nhiệt đới
5. Nguyễn Đình Hoàng: Góp phần nghiên cứu các trường hợp gãy mỏm ngang đơn độc cột sống thắt lưng
6. Hoàng Gia Hợp: Gây mê tĩnh mạch bằng Numal
7. Trương Hồ Ly: Điều trị ngoại khoa cácviêm đại tràng mạn tính bằng tạo lỗ dò, đặc biệt là mở ruột thừa
8. Nguyễn Xuân Nguyên: Góp phần nghiên cứu bệnh do Pseudomonas pseudomallei ở Đông Dương
9. Phạm Văn Phán: Góp phần nghiên cứu bệnh sốt rét bẩm sinh
10. Lê Đình Quý: Góp phần nghiên cứu phẫu thuật cắt tử cung qua đường âm đạo
11. Võ Duy Thạch: Góp phần nghiên cứu bệnh sinh của phù trong chứng tê phù (béri béri)
12. Dương Tấn Tươi: Công cuộc chống bệnh sốt rét ở Tuyên Quang.

Từ khi Đông Dương bị ngăn cách với chính quốc do chiến tranh thế giới thứ 2, các giáo sư nhà trường tự đảm nhiệm việc chủ trì luận án, và cuối cùng, từ Vichy, sắc lệnh ngày 15 tháng Mười 1941 của thống chế Pétain, quốc trưởng Pháp, đã nâng cấp trường Y Dược toàn cấp Đông Dương thành trường Đại học hỗn hợp Y Dược khoa Đông Dương, hoàn thiện bước cuối cùng trong việc xây dựng trường Y Dược Đông Dương (chính quyền Đông Dương thời đó theo chính phủ Vichy và chống lại phe kháng chiến De Gaulle)

Từ khoảng năm 1940 trở đi, trưởng các khoa lâm sàng tại bệnh viện và phần lớn các khoa cận lâm sàng đều do cán bộ Việt Nam đảm nhiệm. Các bậc đàn anh có cụ Vũ Đình Tụng và cụ Trần Văn Lai là hai bác sĩ thường trú tại bệnh viện Bảo hộ để hướng dẫn sinh viên thực tập. Bác sĩ thường trú cuối cùng là cụ Hồ Đắc Di (theo hồi ký giáo sư Vũ Công Hoè).

KHUNG CÁN BỘ CỦA TRƯỜNG ĐÔNG DƯƠNG TRONG THỜI KỲ ĐẦY ĐỦ NHẤT (1943)

Hiệu trưởng:H. GALLIARD, giáo sư trường Đại học Y khoa Paris
Giáo sư chính thức: Daléas, Huard, Cousin, Sollier, Grenierboley,
Blondel, Rivoalen, Joyeux, Montagné, Bonnet
Trợ lý lâm sàng: CARTOUX, Hồ Đắc Di (hai vị này được phong giáo sư ngày 11.12.1943).

BAN Y:
A. BLONDEL

Nội lâm sàng

Bệnh học Nội khoa

Điều trị học

P. BONNET Dược lý học
C. CARTOUX Sản khoa
G. COESTER (giảng viên) Y Vật lý
E. COUSIN Y hoá học
P. DALEAS Lâm sàng Sản-Phụ khoa
DUGA (giảng viên) Điện quang và Vật lý trị liệu
H. GALLIARD

Vi trùng học

Ký sinh trùng học

J. GRENIERBOLEY

Lâm sàng bệnh ngoài da - hoa liễu

Bệnh học đại cương

HỒ ĐẮC DI Bệnh học ngoại (cùng với M. Montagné)
P. HUARD

Giải phẫu định khu

Phẫu thuật thực hành

Ngoại lâm sàng

B. JOYEUX

Mô học và Phôi thai học

Giải phẫu bệnh

M. MONTAGNÉ

Giải phẫu học

Bệnh học ngoại

B. NOYER (Giảng viên)

Sinh lý học

Y học thực nghiệm (tức Sinh lý bệnh học)

A. RIVOALEN Nội lâm sàng nhi khoa

Truyền nhiễmVệ sinh

R. SOLLIER

Lâm sàng Tai-Mũi-Họng

Y pháp học và Qui chế hành nghề

Không có chủ nhiệm chính thức Nhãn khoa

Trường Đại học Y - Dược khoa năm 1923

Tấm thẻ ngà của các học sinh Trường Y Đông Dương

Khoá đầu tiên của Trường Y khoa Đông Dương.
Hàng đầu tiên: ông Lê Văn Chinh, thầy thuốc Capus, BS. Degorce và BS. Le Roy des Barres
Hàng thứ hai: các giám thị.
Hàng thứ ba: tám học sinh.

Đại giảng đường Đại học Y - Dược khoa Đông Dương năm 1930.

Nhà thương Bạch Mai năm 1915

Các học sinh, y sĩ Đông Dương khoá 1921 - 1925.
Lần đầu tiên cso hai sinh viên tốt nghiệp PCN:
Sinh viên Đặng Vũ Lạc (người mặc áo màu trắng) và sinh viên Hoàng Thuỵ ba (người đứng hàng đầu, thứ tư từ trái sang). Sau đó tốt nghiệp Bác sĩ ở Paris.

Khu nội trú của sinh viên ở 13 Lê Thánh Tông (Hiện nay là nơi làm việc của Bộ môn Giải phẫu bệnh và Pháp y).

Học sinh, y sĩ Đông Dương thực tập tại Bệnh viện năm 1910.

Nhiều thầy của chúng ta đã nổi bật ngay từ khi làm nội trú hoặc mới ra trường, ở đây chỉ có thể nêu một vài thí dụ :

Thầy Đặng Văn Ngữ bảo vệ luận án năm 1936 với đề tài :"Góp phần nghiên cứu về lâm sàng và bệnh căn các áp xe gan ở Bắc Kỳ". Ông là trợ lý cho giáo sư Henri Galliard, hiệu trưởng và chủ nhiệm bộ môn Ký sinh trùng. Khi trở thành trưởng labô Ký sinh trùng và giảng viên Sinh học ban Dược, ông đã công bố 16 công trình nghiên cứu và đến năm 1943, ông được tuyển chọn đi du học ở Nhật Bản với tiêu chuẩn "Người có trình độ cao, đại diện xứng đáng cho nền Y học Pháp tại Đông Dương". Sau này, năm 1949, từ Nhật Bản, ông về thẳng Việt Bắc tham gia trường Y kháng chiến và đã có công trình nghiên cứu sản xuất nước lọc (filtrat) pênixilin phục vụ điều trị thương binh.

Năm 1936, ông phát hiện thấy loài sán Clonorchis sinensis (Sán lá gan nhỏ) còn có thể ký sinh ở tụy. Nghiên cứu về sự tiến hoá theo mùa của giun chỉ Dirofilaria immitis ký sinh ở muỗi Aedes được mọi người thán phục về sự tỉ mỉ, chính xác (1938). Khi điều tra muỗi, ông phát hiện loài muỗi chưa từng được biết và đặt tên là Anopheles tonkinensis (1940). Ông đã thực nghiệm thành công bệnh sán nhái ở nòng nọc, làm sáng tỏ nguyên nhân một bệnh ở Việt Nam do tập tục đắp nhái lên mắt chữa bệnh mà giáo sư chủ nhiệm khoa Mắt Keller mô tả là một bệnh đặc biệt.

Thầy Tôn Thất Tùng thì vừa làm nhiệm vụ nội trú khoa Ngoại, vừa làm phụ giảng (prosecteur) giải phẫu và kiêm luôn cả giải phẫu đại thể (mổ tử thi sau khi bệnh nhân chết để xác định nguyên nhân tử vong). Do có sức khoẻ tuyệt vời nên thầy còn giữ chân đội trưởng đội bóng trường Y thời đó. ở thầy, có phẩm chất một nhà khoa học lớn ngay từ khi còn trẻ : cái gì đã tìm thấy thì không bằng lòng với kết quả trước mắt, kiên quyết đi tới cùng, không nề là việc lớn hay nhỏ

Khoảng năm 1960, có một bệnh nhân ngộ độc mercurochrome (ý định tự tử) bị nôn liên tục. Thầy không biết giải độc bằng cách nào bèn sai học trò đi xe của thầy xuống khoa Nhi Bạch Mai tìm bà chuyên gia tiết chế Liên Xô để hỏi ý kiến. Được bà hướng dẫn cách làm sữa chua đơn giản (hồi đó không có sẵn sữa chua như ngày nay) và cho bệnh nhân uống. Quả nhiên hết nôn và ngay hôm sau đã ăn cơm được. Hôm sau, thầy lại bắt học trò xuống tìm bà chuyên gia để yêu cầu giải thích cơ thế tác dụng.

Trong thời gian làm trợ lý rồi phụ giảng giải phẫu từ 1935 đến 1939, thầy đã phẫu tích hơn 200 bộ gan người chết. Lao động cực nhọc đó đã được đền bù xứng đáng : thầy là người đầu tiên phẫu tích được toàn bộ các đường dẫn mật trong gan, sau này có ứng dụng rất to lớn trong công trình cắt gan khô Tôn Thất Tùng được giới Y học phương Tây đánh giá rất cao. Luận án bảo vệ năm 1940 của thầy là khởi đầu cho một công trình suốt đời "Sự phân bố tĩnh mạch trong gan và các ứng dụng trong cắt gan và cắt thùy gan" (Tôn Thất Tùng, cuộc đời và sự nghiệp _ NXB Y Học, 1997).

Như vậy, ngay từ đầu những năm 1940, đội ngũ cán bộ người Việt trong trường Đông Dương đã lớn mạnh, tự đảm đương được công tác giảng dạy lâm sàng và điều trị. Các trưởng khoa lâm sàng hoàn toàn thay thế được các giáo sư người Pháp khi họ vắng mặt.

Bác sĩ Nguyễn Hữu Thanh, nguyên giám đốc bệnh viện Saint Paul, học trò thầy Nguyễn Hữu Thuyết được nghe thầy kể lại : hồi đầu có 3 ông thầy người Việt đi với các thầy người Pháp : Thầy Tôn Thất Tùng trưởng khoa ngoại với giáo sư Meyer May, thầy Đinh Văn Thắng trưởng khoa Sản Phụ với giáo sư Daléas và thầy Nguyễn Hữu Thuyết, trưởng khoa Nhi với giáo sư Blondel. Cả ba thầy đều được sinh viên gọi bằng "sếp".
Học trò của sếp Thuyết khá đông và còn nhớ mãi cái khoa Nhi bệnh viện Bạch Mai ngăn nắp, sạch sẽ và thoáng mát. Các bác sĩ, từ giáo sư chủ nhiệm đến nội trú đều mặc một kiểu trang phục dễ nhận ra, có mũ bác sĩ, túi đựng ống nghe và búa gõ phản xạ. Y tá mặc trang phục trắng có khăn bịt đầu, hộ lý mặc màu xanh lục. Trong khoa tuân theo một trật tự nghiêm ngặt : Khi bác sĩ hoặc nội trú đi khám bệnh, cô y tá người Pháp Marcel tháp tùng ghi lại mọi mệnh lệnh điều trị và tưới cồn vào bàn tay người khám bệnh, không phân biệt đó là giáo sư hay nội trú . Trong giao ban hàng ngày, thường do trưởng khoa lâm sàng chủ trì, nội trú trình bày diễn biến ở bệnh phòng, bà y tá trưởng Landauer người Pháp gốc Đức báo cáo các vấn đề kỹ thuật (ví dụ cấp cứu viêm phổi bằng lều dưỡng khí, truyền máu thừa ở rau sản phụ cho trẻ thiếu máu do sốt rét, v.v..).Bà Minh, y tá phụ trách dược trình sổ thuốc xin chữ ký và cô Marcel báo cáo về các vấn đề dinh dưỡng (như cho bệnh nhi dùng sữa chua, tiêm nước dừa cho trẻ suy dinh dưỡng, v.v..).
Khi bắt đầu kháng chiến tại Hà Nội, thầy Nguyễn Hữu Thuyết là quân y trưởng Trung đoàn Thủ Đô, có trạm cứu thương đặt tại phố Hàng Bè. Sau khi rút khỏi Hà Nội, thầy lại làm quân y trưởng Trung Đoàn 72 Bắc Cạn, mãi tới năm 1952 mới trở lại ngành Nhi rồi được sang Trung Quốc, ở đó, thầy học thêm Trung Y và trở thành một chuyên gia Nhi khoa về Đông Y cho tới cuối đời.

Năm 1940, phát xít Nhật tấn công Lạng Sơn, hạ đồn Đồng Đăng. Thực dân Pháp quì gối dâng Đông Dương cho Nhật và từ năm 1943, Đông Dương đã bị lôi kéo vào cuộc chiến (trong khi nhà cầm quyền thực dân vẫn đứng ngoài cuộc và cổ động cho thống chế Pétain !). Hà Nội bị không quân Đồng Minh ném bom nhiều lần, tất nhiên mức độ ác liệt không thể so sánh với những năm chống Mỹ của nhân dân ta nhưng sinh viên trường Y đã bắt đầu được làm quen với công tác cấp cứu chiến thương, phân loại nạn nhân để sắp tới sẽ thích ứng rất nhanh trong cuộc kháng chiến trường kỳ

Thời kỳ từ những năm 1940 còn chứng kiến các hoạt động cách mạng trong sinh viên Y. Hiện nay, rất tiếc là những nhân chứng lịch sử không để lại nhiều hồi ức cho hậu thế nhưng những gì ta được biết cũng có thể cho thấy hoạt động yêu nước sôi nổi thời đó. Điển hình nhất là hai nhóm :

Nhóm Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Huỳnh Văn Tiểng với hàng loạt bài "Thanh niên ca" khơi dạy lòng yêu nước và tự hào dân tộc khi ca ngợi những chiến công ngàn năm xưa của tổ tiên. Những bài hát này có tính chất kích động rất mạnh. Lớp học sinh mới lớn tiếp thu được lịch sử oanh liệt của dân tộc qua dạng rất hấp dẫn là các bài tráng ca. Những chiến thắng Chi Lăng, Bạch đằng, Đống Đa trở nên sống động hơn bao giờ hết. Có thể nói những bài ca yêu nước của thời kỳ này đã làm sống dạy lòng tự hào dân tộc, nung nấu ý chí trả thù cho nỗi nhục mất nước hơn 80 năm và thôi thúc thanh niên sinh viên học sinh lên đường cứu nước.

Nhóm thứ hai đông hơn, với những hoạt động xã hội như cứu đói, khám bệnh cho đồng bào, quyên góp thuốc men gửi lên chiến khu, gồm nhiều bác sĩ, dược sĩ đã ra trường như Vũ Văn Cẩn (sau này là Cục trưởng Cục Quân Y, rồi Bộ trưởng Bộ Y Tế), Lê Văn Chánh, Nguyễn Sĩ Dư, Nguyễn Dương Hồng, Vũ Công Thuyết, các sinh viên Nguyễn Xuân Bích, Chu Văn Tích, Nguyễn Minh Tâm, v.v... Tuy nhiên cả hai nhóm này hoạt động không phải với tư cách là một tổ chức của Đại Học Y Dược. Lịch sử 100 năm của trường không thể nói nhiều về họ.

Trước khi kháng chiến toàn quốc nổ ra, hàng loạt sinh viên Y đã vào quân đội, nổi bật nhất là các anh Đặng Văn Việt, từ một sinh viên Y trở thành trung đoàn trưởng trung đoàn 174 nổi tiếng đã dám cả gan với lực lượng bản thân hạ đồn Đông Khê ngày 25.5.1950, trước chiến dịch Biên Giới, làm chính Tổng Tư Lệnh Võ Nguyên Giáp phải ngạc nhiên (Võ Nguyên Giáp : Đường tới Điện Biên Phủ - NXB Quân Đội Nhân Dân, 1999.- tr 21), anh Nguyễn Kèng trở thành thiếu tướng QĐND Nguyễn Thế Lâm, và một vinh dự rất lớn nữa cho trường Y là anh sinh viên Cayxỏn Phomvihản sau này trở thành Tổng bí thư đảng Nhân Dân Cách Mạng và Chủ tịch nước Cộng Hoà Dân Chủ Nhân Dân Lào.

Tuy ngày 9.3.1945, Nhật đã lật đổ chính quyền thực dân Đông Dương nhưng mọi việc trong trường Y vẫn tiến hành bình thường. Giáo sư Vũ Công Hoè nhớ lại là Nhật chỉ đuổi giới cầm quyền và quân đội Pháp nhưng không đụng tới các trí thức dân sự. Vì vậy, năm 1945 vẫn tổ chức thi tốt nghiệp và bảo vệ luận án.

Có 6 luận án được bảo vệ năm 1945 gồm:
1. Nguyễn Sĩ Dinh: étude clinique du typhus murin à forme épidémique (Nghiên cứu lâm sàng về sốt Rickettsia mooseri thành dịch)
2. Hồ Văn Huê: Contribution à l' étude du liquide céphalo-rachidien des phylitiques tertiaires cutanés Annamites (Góp phần nghiên cứu dịch não tủy các bệnh nhân giang mai da thời kỳ thứ ba người Việt Nam)
3. Nguyễn Văn Liêu: étude clinique des accidents cutanés provoqués par le latex des arbres à laque du Tonkin (Nghiên cứu lâm sàng các tai biến ngoài da do nhựa cây sơn ở Bắc Kỳ).
4. Huỳnh Bá Nhung: La transfusion sanguine dans les anémies infantiles observées au Tonkin (Truyền máu trong thiếu máu trẻ em ở Bắc Kỳ)
5. Lê Văn Phụng: étude de l' ostéomyélite de l' adolescent et des voies d'accès à la diaphyse humérale (Nghiên cứu về viêm xương tủy ở thiếu niên và đường vào thân xương cánh tay)
6. Nguyễn Tử Vinh: Contribution à l' étude des maladies chirurgicales du colon droit (Góp phần nghiên cứu các bệnh ngoại khoa của đại tràng phải)

Sau Cách mạng tháng Tám, Viện Đại học Hà Nội trở về với nhân dân, trường Y Dược Hà Nội trở thành trường Đại học Y Dược Việt Nam do giáo sư Hồ Đắc Di làm hiệu trưởng. Các giáo sư người Pháp đều ra đi nhưng lúc đó, lớp cán bộ giảng dạy người Việt đã sẵn sàng thay thế trong mọi bộ môn. Kỳ thi tốt nghiệp năm học 1945 - 1946 vẫn mở và Bộ Quốc gia Giáo dục đã cấp bằng tốt nghiệp cho nhiều người, tuy nhiên, không có luận án nào được trình bày.

Năm học 1946 - 1947 bị trở ngại vì chiến tranh nhưng vẫn có kỳ thi tốt nghiệp ở ngoài kháng chiến năm 1947.

Khoảng tháng Tư năm 1947, trường Y Dược Đông Dương được tái giảng trong Hà Nội tạm bị chiếm. Tính chất trường vẫn như xưa, nghĩa là do các giáo sư người Pháp chủ trì và giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Pháp. Khi đó, giáo sư Huard là hiệu trưởng kiêm giám đốc bệnh viện Phủ Doãn (tên cũ bệnh viện Bảo hộ đã bị xoá bỏ, sau này, chính quyền bù nhìn đổi tên thành bệnh viện Yersin).

Dần dà, khung giáo sư được bổ sung thêm 4 giáo sư thạc sĩ người Việt : Phạm Biểu Tâm (Ngoại khoa, 1949), Đặng Văn Chung (Nội khoa, 1952), Vũ Công Hoè (Giải phẫu bệnh, 1952) và Nguyễn Hữu (Giải phẫu, 1952) . Cũng năm 1947, một phân hiệu của trường được mở ở Sài Gòn do giáo sư Massias làm hiệu trưởng. Năm 1949, về danh nghĩa, trường được chuyển giao cho chính quyền bù nhìn nhưng vẫn do giáo sư Huard làm hiệu trưởng. Lần này có thêm giáo sư Phạm Biểu Tâm được làm phó hiệu trưởng kiêm phó giám đốc bệnh viện Yersin.

Từ 1947 đến 1954, trường Hà Nội đã tổ chức bảo vệ được 106 luận án (năm cao nhất là 1952, có 53 luận án) nhưng sau đó, phần lớn bác sĩ đã bị bắt vào quân đội. Cùng thời gian này, trường Sài Gòn cũng đã tổ chức bảo vệ được 57 luận án trước khi kết thúc tồn tại của trường Đông Dương cũ.

PHỤ LỤC

Luận án của các giáo sư trường đại học Y Hà Nội bảo vệ trong thời Đông Dương (theo trình tự thời gian)

1. Nguyễn Xuân Nguyên, 1935: Contribution à l' étude de la mélioidose en Indochine (Góp phần nghiên cứu bệnh do Pseudomonas pseudomallei ở Đông Dương).
2. Đặng Văn Ngữ, 1936: Contribution à l' étude clinique et étiologique des abcès du foie au Tonkin (Góp phần nghiên cứu về lâm sàng và bệnh căn các áp xe gan ở Bắc Kỳ).
3. Vũ Công Hoè, 1937: Du suicide dans la société annamite (Vấn đề tự sát trong xã hội Việt Nam).
4. Nguyễn Ngọc Doãn, 1940: Ascaridiose infantile au Tonkin (Bệnh giun đũa trẻ em ở Bắc Kỳ).
5. Phạm Khắc Quảng, 1940: Amibiase et cancer (Bệnh amíp và ung thư)
6. Đinh Văn Thắng, 1940: Les épreuves fonctionnelles du rein et la valeur de la glycémie chez l'Annamite du Tonkin (Các xét nghiệm chức năng thận và trị số đường huyết ở người Việt Nam Bắc Kỳ)
7. Tôn Thất Tùng, 1940: La vascularisation veineuse du foie et ses applications aux résections et lobectomies hépatiques (Sự phân bố tĩnh mạch trong gan và các ứng dụng trong cắt gan và cắt thùy gan).
8. Nguyễn Tấn Gi Trọng, 1941: De l' intérêt de la ponction sternale dans l' étude du paludisme (Về ích lợi của chọc dò xương ức trong nghiên cứu sốt rét).
9. Đặng Văn Chung, 1944: Les dilatations congénitales de l' artère pulmonaire (Giãn bẩm sinh động mạch phổi).
10. Nguyễn Trinh Cơ, 1944: Considérations sur le traitement des pleurésies purulentes aiguởs non tuberculeuses (Nhận xét về việc điều trị các tràn mủ màng phổi không do lao).
11. Đỗ Xuân Hợp, 1944: Recherches sur le système osseux des Annamites (Nghiên cứu về hệ thống xương người Việt Nam).
12. Trịnh Ngọc Phan, 1944: Contribution à l' étude du traitement chirurgical du goợtre au Tonkin (Góp phần nghiên cứu về điều trị ngoại khoa bướu giáp ở Bắc Kỳ)

Hồ Chủ Tịch đã đến dự lễ khai giảng Trường đại học và phát bằng tốt nghiệp BS y khoa, nha khoa, nữ hộ sinh (15-11-1945)

Đại tướng Võ Nguyên Giáp và GS. Trần Hữu Tước với các chiến sĩ Trung đoàn Thủ đô (2-1947)

Các trí thức trong kháng chiến tại Thanh Thuý (Phúc Thọ) năm 1948.
Từ phải sang trái, các đơn vị: Đinh Văn Thắng, Tôn Thất Tùng, Hồ Đắc Di, Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Văn Huyên, Đỗ Xuân Hợp, Vũ Văn Cẩn, Nguyễn Trinh Cơ

Hội nghị tổng kết thi đua năm 1952 Trường Đại học Y khoa trong kháng chiến
Từ trái, hàng cuối:
Thứ nhất: GS. Hồ Đắc Di.
Thứ ba: BS Tôn Thất Tùng.

 

Ban lịch sử Đại học Y Hà Nội
10/1/2003


Network Center, Hanoi Medical University.
Copyright 2001 HMU. All rights reserved.