Chương II
Thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954)
 

PHẦN I. TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC NĂM 1945 - 1946

VÀI NÉT VỀ TÌNH HÌNH 1945

Năm 1945, trước sự phản công của phe Đồng minh, phe phát xít chỉ còn sót lại Nhật, nhưng cũng đang thua to trên khắp mặt trận châu á - Thái Bình Dương. Do vậy, ở Đông Dương Nhật làm đảo chính chớp nhoáng: chỉ một đêm 9-3-1945 đã lật đổ Pháp để rảnh tay đối phó với Đồng Minh. Nhật tuyên bố cho Việt nam được “độc lập” và lập ra chính phủ Trần Trọng Kim, toàn người Việt, có cả một số trí thức danh tiếng về thực học cũng như về tư cách tham gia. Vua Bảo Đại tuyên bố “dân vi quý”...

Điều đó khiến một số người trong tầng lớp trí thức và thanh niên không khỏi có ảo tưởng, lạc hướng. Những người cầu an và bàng quan nhất với thời cuộc cũng nói tới hai chữ “độc lập”. Nhưng ai chịu suy nghĩ sẽ nhận ra ngay bản chất “bù nhìn” của cái chính phủ do Nhật dựng lên vì nó thiếu hai Bộ quan trọng là Ngoại Giao, Quốc Phòng; và vì thái độ của nó đối với mặt trận Việt Minh do lãnh tụ Nguyễn ái Quốc thành lập và đứng đầu, đangđược quốc dân ngóng đợi.

Sau đảo chính 9-3, theo giáo sư Vũ Công Hoè nói lại, Nhật chỉ giam giữ các nhân vật thuộcgiới cai trị và quân sự Pháp, do vậy các thầy người Pháp vẫn làm việc ở trườngY Dược. Điều này cắt nghĩa vì sao có 6 luận án được bảo vệ năm 1945 (Lê Văn Phụng, Hồ Văn Huê, Huỳnh Bá Nhung, Nguyễn Sỹ Dinh, Nguyễn văn Liêu, Nguyễn Tử Vinh). Đây là những bác sỹ y khoa cuối cùng của trường Y Dược thuộc Pháp (ba vị đầu tiên sau này trở thành cốt cán của quân y ta). Tuy nhiên, lúc này vị thế các thầy người Việt trong trường đã khác hẳn trước: 1) số lượng họ rất đông đảo, khác hẳn tình hình ở các trường đại học khác; 2) họ bắt đầu đảm nhiệm nhiều công việc (do các thầy người Pháp bi quan, không còn hứng thú để làm, hoặc đang bị Nhật quản chế). Điều này giúp hậu thế cắt nghĩa được vì sao trường Y Dược vẫn hoạt động có quy củ nhất sau cách mạng tháng 8 và cả trong kháng chiến chống Pháp.

Cuối 1944 và đầu 1945 xảy ra hạn hán diện rộng và vỡ đê trên khắp triền sông Hồng và sông Thái Bình đã gây mất mùa nặng nề. Do vậy đúng vào lúc “giáp hạt”, nông dân chết đói tới 2 triệu người trên tổng số hơn 10 triệu dân Bắc kỳ. Ở Hà Nội, nông dân tràn ra xin ăn, rách rưới, ghẻ lở, bị chết đói và chết bệnh (dịch sốt “định kỳ”) ngay ở hè phố đến mức chôn không xuể. Sau mỗi đêm xác chết bày ra khắp nơi, cảnh tượng hết sức thê thảm.

Mặt trận Việt Minh - do đảng Cộng Sản thành lập (1941), gồm các đoàn thể và các cá nhân yêu nước, đến lúc này đang phát huy ảnh hưởng rất lớn trong phong trào đánh Pháp, đuổi Nhật - đã hiệu triệu quốc dân và thanh niên tham gia các đoàn thể yêu nước và các phong trào cách mạng. Trong số hưởng ứng có các sinh viên trường Y-Dược và nhiều trường khác. Họ hoạt động bí mật (thời ấy gọi là hoạt động “trong bóng tối”) và chấp nhận mọi rủi ro nếu bị mật thám của chế độ thực dân phát hiện ra. Năm 1945, nhất là sau đảo chính, họ đã có thể hoạt động bán công khai.

Số này không đông lắm so với tổng số sinh viên và bác sĩ, dược sĩ. Ví dụ, Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Đặng Ngọc Tốt, Lê Khắc Thiền, Vũ Văn Cẩn, Lê Văn Chánh, Nguyễn Xuân Bích, Nguyễn Dương Hồng, Vũ Công Thuyết, Chu Văn Tích, Nguyễn Sĩ Dư, Nguyễn Minh Tâm và nhiều vị khác. Tuy nhiên, họ tham gia không phải với tư cách người của nhà trường mà là tư cách cá nhân được giác ngộ sớm.

Trường Y Dược - với tư cách là cả một đơn vị tập thể đứng hẳn trong hàng ngũ cách mạng - chỉ bắt đầu từ khi giáo sư Hồ Đắc Di làm hiệu trưởng.

Trước đó mấy năm, từ 1943, một số đường giao thông và các vị trí quân sự của Nhật ở Hà Nội và ở vài tỉnh đã bắt đầu bị máy bay phe Đồng Minh oanh kích. Sự thực là bom đạn của Đồng minh chủ yếu giết hại thường dân Việt Nam (ở khu Đấu Xảo và ga Hàng Cỏ) và lần đầu tiên các sinh viên y khoa và thầy thuốc người Pháp cũng như Việt tận mắt thấy ở Bệnh viện Phủ Doãn thế nào là vết thương chiến tranh do bom mà họ phải giải quyết. Còn vết thương do đạn bắn thẳng lác đác xuất hiện khi Nhật vào Đông Dương (có vài trận xung đột với Pháp và gây ra tai nạn cho người Việt), và nhiều nhất là khi Nhật làm đảo chính: nhà thương Đồn Thuỷ bị Nhật chiếm, nên thương binh Pháp phải chữa ở bệnh viện Phủ Doãn). Đây là bài học ban đầu, tuy rất đắt giá, để sau này họ bớt lúng túng khi cứu chữa nạn nhân và thương binh trong cuộc chiến tranh với thực dân Pháp. Bác sĩ trẻ tuổi Tôn Thất Tùng ngay hồi đó đã có một vị trí quan trọng về mặt tổ chức cũng như về mặt kỹ thuật giải quyết các loại vết thương đa dạng này.

Theo hồi ký 1992 của bác sĩ Trương Công Trung khi đó là sinh viên Y4 thì bác sĩ Tùng rất có tài tổ chức cứu chữa. Khi đứng đầu kíp trực, ông phân loại các vết thương nhanh chóng và chính xác, cử từng người giải quyết từng vết thương phù hợp với năng lực của họ, kèm sự hướng dẫn cần thiết. Cuối cùng, ông dành rất nhiều thời gian tự mổ những trường hợp khó nhất. Vai trò của ông càng lớn khi Nhật làm đảo chính, số thương binh và nạn nhân tăng lên nhiều.

Sự thực lúc đó, việc cứu chữa các vết thương chiến tranh, đối với các bác sĩ là một điều hoàn toàn mới lạ, chưa có kinh nghiệm. Dịp cứu chữa nạn nhân ở khu Đấu Xảo giúp cho các bác sĩ ngoại khoa biết cách cử các bác sĩ giỏi ra chọn lọc và phân loại vết thương, tổ chức nơi tiếp nhận bệnh nhân để sơ cứu ban đầu, cách chống choáng và tổ chức sinh viên cáng thương về cơ sở điều trị và triển khai các bàn mổ, phân loại những trường hợp mổ theo thứ tự trước sau. Cuối cùng là việc theo dõi săn sóc những trường hợp nặng sau mổ. Dịp này, ngoài những kinh nghiệm thu được về tổ chức khi có chiến thương hàng loạt, một bài học sâu sắc về chuyên môn thu hoạch được là: tuyệt đối không khâu kín thì đầu những vết thương chiến tranh, không khâu kín những mỏm cắt cụt, rạch rộng các vết thương nhiễm trùng. Lần đảo chính ngày 09 tháng 3 năm 1945, Nhật chiếm nhà thương Đồn Thuỷ, Pháp phải đưa tất cả thương binh của họ về bệnh viện Phủ Doãn để điều trị. Đây là lần thứ ba, các thầy thuốc ngoại khoa Việt Nam làm việc tại đây được nhìn thấy những vết thương do đạn thẳng, do đại bác và những vết thương đã nhiễm trùng. Kinh nghiệm thu hoạch được lần này là cách xử trí các vết thương chiến tranh đã nhiễm trùng. Cuối cùng, là những kinh nghiệm của bác sĩ Hoàng Đình Cầu và Nguyễn Thúc Tùng trong cuộc Nam Tiến phục vụ điều trị cấp cứu các vết thương chiến tranh đã được phổ biến và viết thành tài liệu.

Đây cũng là hành trang đầu tiên để thầy trò trường Y Dược lên đường phục vụ cuộc kháng chiến chống Pháp.

Ngày 15 tháng 8 Nhật tuyên bố đầu hàng phe Đồng Minh vô điều kiện. Chỉ 4 ngày sau (19 tháng 8) khởi nghĩa cướp chính quyền đã nổ ra tại Hà Nội, nói lên sự chuẩn bị kỹ càng từ trước và khả năng chớp thời cơ “ngàn năm có một” (theo đúng nghĩa đen). Và chỉ một tuần sau, làn sóng khởi nghĩa đã lan đến tận Nam Bộ. Chính phủ Lâm thời Việt Nam đã được khẩn trương thành lập và chỉ hai tuần sau (ngày 2 tháng 9) kịp ra bản Tuyên ngôn Độc lập trong cuộc mít tinh khổng lồ tại vườn hoa Ba Đình, công bố với thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, trước khi quân Đồng Minh kịp vào Đông Dương làm nhiệm vụ công khai là tước khí giới quân Nhật, còn nhiệm vụ không công khai là phục hồi sự cai trị của thực dân Pháp.

Tại Bắc Bộ, cuối tháng 8-1945, 20 vạn quân Tàu (của Tưởng Giới Thạch) vào tước vũ khí quân đội Nhật, mang theo tàn dư thoái hoá của Việt Nam Quốc Dân Đảng, với âm mưu cướp lại hoặc chia sẻ quyền lãnh đạo với Việt Minh. Chỉ cung cấp cái ăn cho đội quân ô hợp này đã là điều nan giải của chính quyền cách mạng. ở Nam Bộ, chỉ vài ngày sau khi ta cướp chính quyền ở Sài Gòn, thực dân Pháp núp sau liên quân Anh- ấn (vào tước khí giới quân Nhật) đã khởi đầu cuộc xâm lược với âm mưu chớp nhoáng chiếm lại các tỉnh từ vĩ tuyến 16 trở vào. Ngày 23.9.1945 với những vũ khí thô sơ cùng với lòng yêu nước vô bờ, người dân Nam Bộ đã đứng dậy kháng chiến, bảo vệ quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của một đất nước độc lập. Tại các thành phố và đô thị quan trọng vẫn còn sáu vạn quân Nhật với nguyên vẹn vũ khí; tuy đã đầu hàng, nhưng sẵn sàng theo lệnh quân Đồng minh chống lại cách mạng nước ta. Một số tàn quân Pháp ẩn náu ở Lào và Vân Nam trước đây bắt đầu trở lại đánh chiếm Lai Châu, nhẩy dù xuống Đông Triều, Thừa Thiên, Quảng Nam... Bọn tàn dư Quốc Dân Đảng nhân cơ hội đã cướp chính quyền ở một số địa phương như Lào Cai, Hà Giang, Yên Bái, Phú Thọ, Việt Trì, Vĩnh Yên, Lạng Sơn, Hải Ninh... để làm áp lực cho việc tranh dành quyền lực với chính phủ lâm thời.

Trong tình hình khó khăn và phức tạp đó, giáo sư Hồ Đắc Di được bổ nhiệm làm hiệu trưởng, và ông đã cùng với các trí thức thân cận và yêu nước hướng toàn trường đại học Y Dược vào sự nghiệp bảo vệ nền độc lập của đất nước.

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HOẠT ĐỘNG TRỞ LẠI. NĂM 1945 VÀ 1946.

Chỉ 2 tháng chuẩn bị, trường đại học Y Dược khoa của nước Việt Nam non trẻ đã khai giảng. Quả là việc phi thường. Để làm việc này phải chuẩn bị cơ sở vật chất, lập bộ khung giảng dạy, giải quyết chế độ đãi ngộ thầy cũng như chiêu sinh. Bộ Giáo Dục sẽ ra các Nghị Định phù hợp, nhưng chính là dựa vào các đề nghị cụ thể của hiệu trưởng (lúc đó gọi là giám đốc).

Tháng 10-1945, có thông báo tuyển sinh. Số người ghi tên vào năm thứ nhất Y (gọi tắt là Y1) đông chưa từng có: 73 người.

Cho đến tháng 8-1945 mới có 6 luận án được bảo vệ; trong khi năm 1944 là 16 luận án. Còn rất nhiều sinh viên đến niên hạn, đang chuẩn bị luận án thì cách mạng bùng nổ. Thay cho việc trình luận án của từng người, Bộ Quốc Gia Giáo Dục đã ra nghị định ngày 16/10/1945, căn cứ theo đề nghị của Hội đồng các “quyền giáo sư”, cấp văn bằng bác sĩ y khoa cho mọi sinh viên đã qua 24 lần ghi danh (tức học kỳ 3 tháng) và đã trúng tuyển ba kỳ sát hạch Nội, Ngoại, Sản. Một số đã được Chủ tịch chính phủ trực tiếp trao bằng trong lễ khai giảng năm đó.

Ngoài ra, có cả nghị định về tên gọi tiếng Việt của các bằng cấp do trường đại học Y Dược cấp phát.

Bộ máy quản lý và khung giảng dạy cũng được thành lập và củng cố.
- Trước hết phải có các vị phụ trách các bộ môn. Ngày 3.11.1945, Bộ Quốc Gia Giáo Dục ra nghị định chính thức cử các vị “quyền giáo sư” dạy các bộ môn, gồm 35 người, cho các ban Y, Dược, Nha của trường.

Tháng 9, giáo sư Hồ Đắc Di bằng uy tín lớn của mình đã tập hợp được một bộ khung giảng dạy khá hoàn chỉnh. Nhìn vào danh sách, người ta thấy có tên hầu hết các thầy từng làm việc ở trường trước đó (Tôn Thất Tùng, Trương Cam Cống, Vũ Công Hoè, Đặng Văn Chung, Phạm Khắc Quảng, Đinh Văn Thắng, Tôn Thất Hoạt, Trần Văn Bảng...), sau đó là những bác sĩ và dược sĩ có tiếng nhất của miền Bắc cũng được mời (như các vị: Tiến sĩ dược khoa Trương Công Quyền và Lê Quang Phú, các BS. Đặng Vũ Hỷ, Hoàng Tích Trí, DS. Huỳnh Quang Đại...), cả thảy 34 vị chia nhau phụ trách trên 70 môn học của 3 “ban”: Y, Dược, Nha; ngoài ra còn thầy Dương Bá Bành phụ dạy lớp nữ hộ sinh.

Danh sách kịp công bố trước ngày khai giảng, và đến 16.11.1945 còn được đăng ở Công báo. Chức danh “quyền giáo sư” ghi trong Nghị Định được chú thích bên cạnh bằng tiếng Pháp, là “chargés de cours”. Nói chung, các văn bản hồi đó đã cố gắng dùng tiếng Việt, nhưng vẫn chú thích rất nhiều bằng tiếng Pháp, nhất là các từ chuyên môn.

Hồi ấy, trong đào tạo có 4 bậc chức danh: thấp nhất là phụ trợ giáo, rồi đến phụ giáo (gọi gộp là “Ban phụ giáo”), trên nữa là “chargés de cours”và cao nhất là giáo sư. Các vị có chức danh “chargés de cours” được phép dạy lý thuyết trên giảng đường, có thể được cử phụ trách một bộ môn (nếu khuyết giáo sư) - do vậy khi dịch sang tiếng Việt có thể dùng “giảng viên” hay “phó giáo sư”. Còn văn bản của Bộ Giáo dục dùng “quyền giáo sư”. Có thể nghĩ rằng nhiều thầy lần đầu tham gia giảng dạy, thậm chí mới ra trường vài năm, đã có ngay chức danh “quyền giáo sư” như trên là việc làm mạnh bạo và rộng rãi của hiệu trưởng, được chính quyền mới chấp nhận. Nhưng Nghị Định ghi rõ: đây chỉ là chức danh của năm học 1945-1946 mà thôi.

Danh sách các Quyền giáo sưở trường đại học Y-Dược-Nha Việt nam (năm học 1945-1946)

BAN Y
1. Hồ-Đắc-Di 10. Trần-Văn-Bảng
2. Tôn-Thất-Tùng 11. Nguyễn-Đình-Hào
3. Lê-Quang-Phú 12. Nguyễn-Đình-Hoàng
4. Trương-Cam-Cống 13. Nguyễn-Đình-Cát
5. Hoàng-Tích-Trý 14. Tôn-Thất-Hoạt
6. Vũ-Công-Hoè 15. Đặng-Vũ-Hỷ
7. Đặng-Văn-Chung 16. Phạm-Khắc-Quảng
8. Nguyễn-Hữu-Phiếm 17. Đặng-Vũ-Kha
9. Đinh-Văn-Thắng

BAN DƯỢC BAN NHA
18. Trương-Công-Quyền 27. Trịnh-Văn-Tuất
19. Nguyễn-Văn-Định 28. Phạm-Biểu-Tâm
20. Nguyễn-Văn-Minh 29. Nguyễn-Huy-Tiếp
21. Chương-Văn-Vĩnh 30. Bùi-Đình-Cận
22. Nghiêm-Xuân-Huỳnh 31. Dương-Minh-ấp
23. Nguyễn-Văn-Du 32. Phan-Huy-Bích
24. Hoàng-Đình-Tuấn 33. Lê-Văn-Trung
25. Nguyễn-Duy-Quang 34. Dương-Thị-Hiền
26. Trịnh-Văn-Luận

BAN NỮ HỘ SINH
35. Dương-Bá-Bành
Tổng số thầy (Y, Dược, Nha) : 35
Tổng số môn học (Y, Dược, Nha) : 75 môn

Tiếp đó, cần có các nhân viên chuyên môn giúp việc các “quyền giáo sư”. Ngày 13/12/1945, Bộ Giáo Dục ra tiếp nghị định về việc tổ chức thi tuyển 25 người vào “ban phụ giáo” (tức cán bộ chuyên môn giúp việc các vị quyền giáo sư; cụ thể: họ hướng dẫn các giờ thực tập cho sinh viên), đồng thời quy định luôn mức đãi ngộ cho từng chức vụ. Đó là các chức vụ trưởng, phó khoa lâm sàng và phụ trách thực tập (tức là chức vụ mà các quyền giáo sư trước đây đã từng giữ dưới thời trường này thuộc Pháp). Ngày thi là 27.12.1945. Chưa tìm được danh sách trúng tuyển, nhưng chắc chắn phần lớn họ là các bác sĩ mới ra trường, hay sinh viên sắp ra trường, ví dụ thầy Nguyễn Hữu, Hoàng Đình Cầu, Lê văn Hùng (Y6) mà nhiều sinh viên hồi đó đã được học, sau này có ghi lại trong hồi ký.

Tóm lại, mô hình ban đầu đã rập theo cách tổ chức thời thuộc Pháp.

Như vậy, chỉ sau chưa đầy 3 tháng, chính quyền cách mạng đã ổn định tổ chức các trường Đại học gồm: Đại học Y Dược, Đại học Khoa Học, Đại học Luật khoa, Cao đẳng Mỹ thuật, Đại học Văn khoa và một số trường kỹ thuật khác (đáng chú ý là chức vụ Hiệu trưởng trường Đại học Khoa Học được giao cho bà Hoàng Thị Nga, người phụ nữ Việt Nam đầu tiên đỗ Tiến sĩ toán học).

Chế độ lương bổng và phụ cấp giảng dạy ở trường Đại học Y Dược được quy định trong Nghị định ngày 28.11.1945 như sau: Thực hành khoa trưởng lương đồng niên 3.000đ, trưởng khoa lâm sàng 2.400đ, phó khoa 1.200đ (là sinh viên thì chỉ được 840đ), trợ lý giải phẫu 2.400đ (là sinh viên thì được 1.200đ), v.v... Nếu từng là cựu nội trú, được hưởng thêm 600đ mỗi năm. Với các quyền giáo sư, ngoài nhiệm vụ chính đã hưởng lương và phải dạy một số giờ theo quy định (khoảng 80 giờ), thì theo Nghị định ngày 20.3.1946 của Bộ Quốc Gia Giáo Dục, cứ mỗi môn dạy thêm được phụ cấp là 1.200đ hoặc 800đ, tuỳ theo đó là môn phải dạy cả năm hay chỉ nửa năm; nếu dạy lẻ, mỗi giờ lý thuyết được 10đ, giờ thực hành được 5đ.

Hồi đó, lương một công chức bậc trung là 180 đồng/tháng, đủ nuôi cả gia đình (hai mươi xu một bát phở). Thầy Hồ Đắc Di, nếu tính toán theo quy định hồi đó, ngoài lương chính khoảng 800 đồng/tháng, còn có phụ cấp chức vụ hiệu trưởng và dạy thêm hai môn khác, tính ra khoảng 1200đ/tháng
Tham khảo: bà Hoàng Thị Nga được chính quyền Pháp cử làm giáo sư trường Cao đẳng Khoa học từ 15.5.1945; và đến 15-8-1945 thì đề bạt hiệu trưởng. Dường như bà chưa được lĩnh lương trong những ngày ấy. Ngày 7-11-1945 chính quyền cách mạng đã ra Nghị Định (tóm tắt nội dung): 1) vẫn trả lương cho bà Nga từ khi có chức vụ giáo sư là 642,26 đồng/tháng; 2) từ khi giữ chức hiệu trưởng thì hưởng 1.033,54 đồng/tháng (thời kỳ trước cách mạng). Cố nhiên, nay, dưới chính thể mới, bà vẫn tiếp tục hưởng lương đó (quy đổi từ tièn thời Pháp sang). Như vâỵ chính quyền mới tranh thủ và đãi ngộ trí thức không thua thời Pháp thuộc.

15.11 lễ khai giảng đã được tổ chức trọng thể với sự có mặt của Hồ chủ tịch và nhiều vị bộ trưởng. Theo báo chí hồi đó mô tả lại thì sau phần giới thiệu quan khách, gồm Hồ Chủ Tịch, ông Vũ Đình Hoè Bộ trưởng Giáo Dục; ông Trần Huy Liệu (bộ Tuyên Truyền), các ông bộ trưởng (hoặc đại diện) bộ Tài Chính, Lao Động, Giao Thông và ông Nguyễn Văn Huyên lúc đó là Giám đốc Đại học vụ (sau này là Bộ trưởng Bộ Giáo dục, thay ông Hoè), bài Tiến Quân Ca và bài Tiếng Gọi Sinh Viên đã vang lên. Giáo sư Hiệu trưởng đọc diễn văn (nay chưa tìm được), các quan khách phát biểu. Hồ Chủ Tịch đích thân trao bằng, dặn dò và kêu gọi các bác sĩ tân khoa “ hãy vì tổ quốc, vì đồng bào mà làm việc quên mình”.

Danh sách những người được phát bằng hôm đó được đăng rộng rãi trên báo chí nói lên giá trị tấm bằng. Bác sĩ Y khoa (9 vị): Nguyễn Đình ái, Dương Bá Bành, Đặng Đình Huấn, Phạm Gia Triệu, Trương Sỹ Hoàn, Nguyễn Duy Ngọ, Nguyễn Hữu Giới, Nguyễn Ngọc Huy, Ngô Như Hiền. (một số khác tiếp tục được công nhận sau). Nha Sỹ (4 vị): Nghiêm Mỹ, Nguyễn Dương Hồng, Ưng Văn Thiệu, Nguyễn Thân. Dược sĩ (5 vị): Nguyễn Đình Ân, Nguyễn Trọng Bính, Nguyễn Văn Côn, Nguyễn Bá Khang, Đặng Vũ Xích. Nữ hộ Sinh: Nguyễn Thị Tuyết Mai, Hoàng Hinh Nương, Phùng Thị Quảng, Trương Thị Tâm, Đỗ Thị Tâm, Đỗ Thị Minh.

Sự có mặt của Chủ tịch nước trong lễ khai giảng và phát bằng nói lên vị thế của trường, đồng thời cho thấy nhãn quan sáng suốt của lãnh tụ đã nhìn rõ vai trò sau này của trường trong công cuộc bảo vệ nền độc lập. Về sau, trong buổi lễ thành lập “quân y đại học”, Hồ Chủ Tịch cũng tới dự.

Sinh viên y khoa vào trường năm 1945 đến nay nhiều vị còn thọ. Các vị (Nguyễn Văn Nhân, Trần Quang Vỹ, Vũ Triệu An...) còn nhớ khá rõ tình hình học tập hồi đó. Các môn đều theo đúng chương trình của Pháp. Các thầy rất khó khăn trong dùng tiếng Việt, nên đa số vẫn dùng tiếng Pháp, hoặc chỉ “đá vào” chút ít tiếng Việt mà thôi. Theo bản ghi nhớ lại của phó giáo sư Trần Quang Vỹ thì giảng lâm sàng và trình bày bệnh án cũng bằng tiếng Pháp, chỉ khi hỏi bệnh nhân mới dùng tiếng Việt. Bài ghi tại lớp của sinh viên Trần Quang Vỹ còn giữ lại được đến nay thì 100% là tiếng Pháp. Ngay năm đầu (Y1), sinh viên đã phải đi thực tập tất cả các buổi sáng, từ 7.00’ đến 11.30’ (ở bệnh viện Bạch Mai hoặc Phủ Doãn); còn buổi chiều học lý thuyết từ 13 giờ đến 17 hay 18 giờ. Khá căng thẳng.

Số thời gian đầu tư cho phần Cốt Học (ostéologie) là rất lớn, nhiều người phải bỏ học vì không qua nổi kỳ thi này (và thi môn Giải Phẫu nói chung). BS Trần Quang Vỹ nhớ lại: từ 13.00-14.00 học lý thuyết Giải Phẫu, từ 14.00’-16.00’ phẫu tích trên xác; từ 16.00’-17.00’ học các môn cơ sở khác (Sinh lý 2 tiết/tuần; Mô Học; Tế Bào Học; Phôi-Thai Học; Y Lý, Y Hoá... mỗi môn 1 tiết/tuần). Chỉ cần chểnh mảng học hành một chút là nguy cơ “bỏ học” do không qua được kỳ thi đã bày ra nhãn tiền. Tuy nhiên, năm học 1945-1946 số người được lên năm thứ hai chiếm tỷ lệ cao nhất từ trước tới nay: khoảng trên 50% (sau khi đã trừ đi số người bỏ học vì các nguyên nhân khác), chứ không phải dưới 30% như các năm trước. Sau Giải phẫu, Sinh lý học cũng là môn “sát thủ” đối với sinh viên Y1.

Năm học 1945-46 đội ngũ thầy ở trường còn phải kiêm nhiệm rất nhiều công tác chính quyền, đoàn thể và xã hội. Con mắt toàn xã hội nhìn bác sĩ, nhất là bác sĩ dạy đại học, như những bậc trí thức lớn, có vị trí cao và rất đáng kính trọng. Khi thấy họ hăng hái tham gia các công tác thì dân rất yên tâm và càng tin tưởng, gắn bó với chế độ mới. Thầy Di được bầu vào quốc hội, kiêm nhiệm thanh tra y tế, giám đốc đại học vụ, giám đốc bệnh viện Đồn Thuỷ...; thầy Hợp giữ chức trưởng Ban Cứu Đói và cả... chủ tịch phố Chợ Hôm; sau đó thầy tòng quân (nhưng vẫn giảng dạy ở trường). Thầy Thắng, thầy Tùng làm giám đốc bệnh viện Bạch Mai và Phủ Doãn đã phục hồi nề nếp và tổ chức tốt sự hoạt động; qua đó đã góp phần rất quyết định vào chất lượng đào tạo (với tư cách bệnh viện thực hành của trường). Nhiều thầy tham gia sáng lập hội Hồng Thập Tự, sau này thầy Tùng làm chủ tịch. Một số thầy ngoại khoa đi chi viện chiến trường miền nam (Dương Bá Bành và Hoàng Đình Cầu). Cũng sang năm 1946, trường tiếp tục công nhận 16 sinh viên Y6 đã học đủ chương trình (chưa xong luận án) và một số trong các vị tân khoa này được bổ sung vào khung giảng dạy của trường. Thực ra, có những người đã tham gia giảng dạy ngay khi chưa tốt nghiệp, thậm chí từ dưới thời thuộc Pháp (các thầy Nguyễn Hữu, Phạm BiểuTâm, Hoàng Đình Cầu, Dương Bá Bành...). Khi chiến tranh xảy ra, người ta càng nhận rõ chủ trương công nhận tốt nghiệp mà không cần trình luận án là rất dúng đắn.

Tổng số bác sĩ được nhận bằng, kể cả đã nhận ngày khai giảng năm 1945, là 30 (số được công nhận năm 1946 gồm các vị: Hoàng Đình Cầu, Nguyễn Thế Khánh, Phạm Ngọc Khuê, Trương Công Trung (?), Lê Khắc Thiền, Trương Hán Bật, Nguyễn Thúc Tùng, Phạm Gia Lăng, Ngô ứng Lân, Phạm Phú Khai, Nguyễn Thúc Mậu, Lê Văn ốc, Lê Quang Quới, Nguyễn Minh Tâm, Nguyễn Thiện Thành, Phạm Biểu Tâm. Đây là con số rất đáng kể hồi đó, nếu ta biết rằng tổng số y sĩ và bác sĩ “trong khả năng huy động” chỉ dưới 100, thậm chí 80 người. Trước nguy cơ ngày càng rõ Pháp sẽ kiếm cớ mở rộng chiến tranh ra cả nước, chính phủ cho thống kê tổng số bác sĩ, y sĩ và dược sĩ (cả công và tư) ở 30 tỉnh thành. Việt Nam Dân quốc Công báo ngày 2-3-1946 nêu tên từng người, kèm địa chỉ làm việc và chức vụ của họ.

Tổng hợp lại ta được bảng dưới đây

Bác sĩ công: 42 Bác sĩ tư: 47 Tổng bác sĩ (công và tư): 89
Y sĩ công: 38 Y sĩ tư: 12 Tổng y sỹ (công và tư): 50
Y-bác sĩ công: 80 Y-bác sĩ tư: 59 Tổng y-bác sĩ (công, tư): 139

Dễ dự đoán là sẽ không huy động được tất cả số này, khi có tình hình khẩn cấp do tuổi cao hoặc nặng gánh gia đình và một số rất ít không cùng chính kiến...
Quả nhiên, đến 27-7-1946, Bộ Xã Hội công bố danh sách các bác sĩ sẽ được trưng tập giúp việc Quân Y Cục, nếu lấy từ 26 đến 33 tuổi theo quy định thì chỉ được cả thẩy có 83 người (y sĩ Đông Dương không còn ai ở độ tuổi này). Trong số này có hầu hết các bác sĩ do chế độ mới công nhận và cấp bằng. Ví dụ, các vị: Dương Bá Bành (sinh 1920, lúc này 26 tuổi), Nguyễn Thiện Thành, Đặng Đình Huấn, Nguyễn Thúc Mậu... (sinh 1919), Phạm Gia Triệu, Lê Khắc Thiền, Nguyễn Duy Ngọ... (sinh 1918), Nguyễn Minh Tâm, Nguyễn Đình ái, Hoàng Đình Cầu, Nguyễn Thế Khánh, Lê văn ốc, Trương Hán Bật... (sinh 1917), Nguyễn Thúc Tùng, Phạm Gia Lăng, Phạm Biểu Tâm... (sinh trước 1917). Một số dược sĩ tốt nghiệp 1945 và 1946 cũng tham gia quân đội ngay những ngày đầu (Nguyễn Đình Ân, Nguyễn Trọng Bính...).
Niên khoá 1946-1947, số sinh viên ghi tên vào ban Y (hồi ấy chưa gọi là khoa Y) lên tới 128 người. Lại một con số kỷ lục mới.
Nguyên nhân:
1) trước kia học Y rất tốn kém, nhà nghèo không thể theo được; nay chi phí có đỡ hơn;
2) số học sinh tú tài đã tăng lên nhiều;
3) trường Y Dược có vẻ quy củ hơn cả. Số sinh vien vào các trường khác cũng tăng lên so với “ngày xưa”, nhưng không tăng nhiều như ở trường Y Dược. Thực tình, chưa ai nghĩ tới chuyện sau 4 hay 5 năm nữa sẽ lấy đâu ra người hướng dẫn luận án cho họ và cho cả sinh viên năm trước họ (201 sinh viên, nhưng chỉ có 18 “quyền giáo sư” ở Ban Y học). Tình hình đất nước còn khẩn trương hơn nhiều. Thầy trò nhận thức rất rõ nguy cơ đang đe doạ đối với nền độc lập non trẻ của nước nhà (qua báo chí, qua sự khiêu khích của Pháp tại Hà Nội và nhất là qua các sự kiện liên quan trực tiếp với trường.
Xin nêu vài sự kiện:
1) Pháp đã dùng đường biển đánh ra Phú Yên, Khánh Hoà, Quy Nhơn và các tỉnh lân cận. Do vậy, các thầy trẻ mới tốt nghiệp của trường dẫn đầu các đoàn phẫu thuật chi viện 6 tháng cho Nam Bộ (thầy Cầu, thầy Bành, BS Nguyễn Thúc Tùng) thực tế chỉ vào được đến Trung Bộ là vì vậy. Cho đến đoàn của bác sĩ Nguyễn Thúc Tùng thì... nghẽn đường ra, vì chiến sự đã lan rộng (BS Tùng ở lại, lãnh đạo quân y khu V đến 1954 mới tập kết ra Bắc);
2) Sự gây hấn của Pháp ở ngay Bắc Bộ: 15.000 quân Pháp ra đóng ở Hà Nội, Hải Phòng và một số tỉnh miền Bắc (thay thế quân Tàu, theo Tạm Ước 14-9-1946), đã lập tức gây sự, bộc lộ dã tâm xâm lược; và một số sinh viên đã được trưng dụng đến những nơi có căng thảng hoặc có chiến sự (Lạng Sơn, Thái Nguyên...) để cứu chữa thương binh do những trận đụng độ tại địa phương; ví dụ Trần Quang Vỹ, Nguyễn Hữu Mô, Nguyễn Khắc Lung (Y1) đi theo đàn anh Lê Văn Hùng (Y6) lên Bắc cạn..
3) Sự kiện tiếp đó: 1.11.1946 (sát ngày toàn quốc kháng chiến) Cục Quân Y vận động sinh viên tòng quân (nhưng vẫn tiếp tục học ở trường này) - lập ra tổ chức gọi là “Quân y đại học”, có khoảng 40 sinh viên tham gia. Buổi lễ ra mắt có Hồ Chủ Tịch và nhiều bộ trưởng đến dự nói lên ý nghĩa của sự kiện đối với cuộc kháng chiến sắp lan ra cả nước.. Trong hoàn cảnh đó, thầy Đỗ Xuân Hợp tòng quân cùng nhiêù học trò mình, gồm nhiều người mới tốt nghiệp.
4) Chính số bác sĩ này là nòng cốt đào tạo cấp tốc nhiều lớp y tá cho nhu cầu chiến tranh. Khi tốt nghiệp, trong lễ trao bẳng y tá được tổ chức ở Đại giảng đường đại học, có đại tướng tổng tư lệnh và đại diện trường Y Dược tới dự, đã nói lên nhu cầu nhân viên y tế từ thấp đến cao cho quân đội gay gắt đến mức nào.
5) Cuối cùng là từ giữa tháng 11.1946 thì tình hình ở ngay Hà Nội cũng bắt đầu căng thẳng, mức độ tăng lên hàng ngày. Cuốn Lịch Sử Quân Y còn cho thấy sau Sắc lệnh của Chủ tịch nước về xây dựng Giải Phóng Quân thành Vệ Quốc Đoàn, nhu cầu nhân viên y tế cho quốc phòng tăng vọt, nhưng số sẵn có cộng với sự đào tạo cấp tốc lúc đó vẫn chỉ đảm bảo được 1/10. Các lãnh tụ với nhãn quan chiến lược đã thấy trường đại học Y Dược (cỗ máy cái của các máy cái khác) phải tồn tại bằng mọi giá trong cuộc kháng chiến sắp tới.

Tháng 10/1946, các kỳ thi kết thúc năm học cho Y1 đến Y5 vẫn mở và các sinh viên đã tòng ngũ hoặc do quân đội điều động đều được về dự thi.

Thực hiện chủ trương của Chính phủ, ngày 1.11.1946 đã có lễ thành lập hệ “Quân y đại học” đầu tiên tại Trường Đại Học Y Dược, có 40 sinh viên tự nguyện tham gia, trong đó có Đặng Văn Việt, Nguyễn Sĩ Quốc, Nguyễn Xuân Ty, Võ Tấn, Vũ Trọng Kính, Vũ Triệu An... Sinh viên quân y được cấp phát trang phục, có sinh hoạt phí, sinh hoạt tương tự bộ đội, chịu sự điều động của quân đội, nhưng vẫn dự các giờ giảng tại trường.

“Quân Y đại học” tuy gọi như vậy nhưng không phải là trường đại học quân y nằm trong trường Y Dược. Hệ này tồn tại một số năm, kể cả khi trường đã lên Chiêm hoá (hàng năm, trong số sinh viên mới tuyển, có một số - ngày càng đông - được trưng dụng vào quân y, cho đến khi có sắc lệnh của Chủ tịch nước động viên toàn thể sinh viên y dược vào quân đội. Sinh viên Đặng Văn Việt từ cương vị trưởng ban quân y trung đoàn đã trở thành vị trung đoàn trưởng trung đoàn 174 nổi tiếng trên mặt trận đường số 4, với chính uỷ là ông Chu Huy Mân.

Sinh viên khoá 1946-47 được gọi tựu trường tháng 11.1946 thì ngày 19-12 năm ấy tiếng súng toàn quốc kháng chiến đã nổ ở Hà nội. Với hành trang chuyên môn còn nhẹ tênh, sinh viên khoá này vẫn hăng hái phục vụ và học hỏi ở các trạm cứu thương, các đội phẫu thuật và ở bệnh viện dã chiến của thầy Tùng, thầy Di. Họ “vừa làm vừa học” theo ý nghĩa đầy đủ nhất của cụm từ này. Còn sinh viên Y2 (thực ra mới học Y2 được hơn một tháng) nhờ thực tập bệnh viện tất cả các buổi sáng suốt từ khi vào trường đến giờ đã biết (theo nhớ lại của BS Trần Quang Vỹ và một số bạn cùng lớp ): băng bó và thay băng, tiêm, săn sóc bệnh nhân, khám bệnh, làm bênh án, cho đơn, tiểu phẫu, phụ mổ... Với truyền thống lớp trên dìu dắt lớp dưới nên những sinh viên mới đã được đàn anh chỉ bảo thêm còn biết làm nhiều hơn thế. Đó là hành trang chuyên môn đi kháng chiến của họ.

THAM GIA CUỘC KHÁNG CHIẾN Ở MIỀN NAM

Ngày 23.9.1945 tiếng súng kháng chiến ở Nam Bộ đã nổ khi chính quyền cách mạng mới tồn tại được một tháng. Lực lượng quá chênh lệch và chưa đủ thời gian chuẩn bị, nhiều mặt trận của ta đã bị vỡ. Việc cấp cứu điều trị cho thương binh gặp nhiều khó khăn. Thiếu lương thực, thuốc men..., các bệnh xá của nhiều đơn vị dần thu nhỏ lại. Có nơi phải phân tán thương bệnh binh tới từng nhà dân để nhờ chăm sóc hộ. Số bác sĩ và dược sỹ do trường công nhận 1945 và 1946 là lực lượng rất lớn bổ sung cho quân-dân y Nam bộ, qua năm tháng họ trở thành cốt cán trong ngành ở miền Nam (Nguyễn Thiện Thành, Trương Công Trung, Nguyễn Thúc Tùng, Nguyễn Kim Phát, Phạm Văn Số...).

Tại Bắc Bộ, phong trào Nam Tiến được phát động và được thanh niên hưởng ứng rộng rãi, sôi nổi. Nhiều đoàn Nam Tiến gồm mấy chục hay hàng trăm nguời với vũ khí thô sơ được tiễn đưa rầm rộ lên đường ở ga Hàng Cỏ, bến xe phía nam và các địa điểm tập kết khác. Không kể một số sinh viên Y đi theo các đoàn Nam Tiến lớn (ngoài ngành Y), các đoàn y tế của thầy trò nhà trường và bệnh viện Phủ Doãn tuy nhỏ, nhưng vai trò chuyên môn và tác dụng phát huy thì rất lớn; ví dụ, họ là nòng cốt xây dựng các bệnh viện dã chiến hàng mấy trăm giường, gồm cả vai trò về chuyên môn kỹ thuật và về tổ chức.

Ngày 07/2/1946, đoàn phẫu thuật đầu tiên vào tăng viện cho chiến trường miền Nam do bác sĩ Hoàng Đình Cầu phụ trách cùng với hai y tá nhà mổ là y tá Nguyễn Hữu Huy và y tá Trần Đức Hy. Đoàn này cùng đi với đoàn của bác sĩ Vũ Văn Cẩn (có nhiệm vụ kiểm tra công tác quân y từ Huế trở vào). Đoàn mang theo đủ dụng cụ của một bộ đại phẫu thuật và nó đã góp phần vào việc xây dựng bệnh viện phẫu thuật đầu tiên của liên khu 5 sau này. Đoàn vào đến Phú Yên phải dừng lại (vì Pháp đã đánh ra đến đây) và phối hợp với dân y thành lập bệnh viện Tuy Hoà, khoảng 300 giường để phục vụ thương bệnh binh từ Khánh Hoà gửi ra. Số nhân viên ít, thương bệnh binh đông, nhưng được đồng bào do lòng yêu nước sôi sục cử một số chị em phụ nữ thường xuyên tới làm công tác bệnh viện, từ cấp dưỡng hộ lý và cả một số công tác của y tá (theo Lịch sử quân y - tập I). Tiếp theo là đoàn của thầy Dương Bá Bành, đoàn bác sĩ Nguyễn Tăng Cơ (ra trường 1943), đoàn của bác sĩ Nguyễn Thúc Tùng (công nhận 1946) vào tăng viện. Cuốn Lịch Sử quân y (tập I) đánh giá rất cao vai trò và sự hoạt động của các đoàn này, nhất là đoàn thầy Hoàng Đình Cầu và Nguyễn Thúc Tùng.

Một số sinh viên tham gia các đoàn quân Nam Tiến khác, như Đỗ Đình Luận, Vũ An Dậu, Nguyễn Văn Đức, Y Tlam, Đỗ Bá Hiển... mặc dù khi đó nhiều người chưa hoc xong Y1. Nhiều sinh viên, như Y Tlam, không còn dịp ra Bắc học tiếp nữa, cũng như đoàn của bác sĩ nội trú Nguyễn Thúc Tùng (vào thay thế từ tháng 10-1946; ở lại đến tháng 10-1954, tròn 8 năm, mới ra Bắc).

Tình hình Hà Nội căng thẳng dần, cũng là lúc trường Y Dược thông báo tuyển sinh niên khoá 1946-1947 (cuối tháng 9), tháng 10 đã có nhiều người ghi tên. Thầy trò ngày càng thấy rõ chiến tranh với Pháp là khó lòng tránh khỏi, qua các sự kiện giặc Pháp khiêu khích ở Hà Nội; lúc này, quân Pháp đã được phép thay thế quân Tàu ra đóng ở miền Bắc. Tuy nhiên, vẫn có một số người ở trường cho rằng chính phủ cụ Hồ sẽ khôn khéo hoà hoãn để tránh đổ máu. Một số khác lại tin rằng “Thăng Long phi chiến địa”(!) như câu nói từ xưa để lại. Nhưng hiệu trưởng và một số cốt cán thì được thông báo rõ do vậy họ hiểu rằng chỉ thị tổ chức kỷ niệm Pasteur có mời các nhà khoa học và quan chức Pháp chỉ nằm trong kế hoạch làm địch chủ quan.

Ngày 10-12 trường nhận chỉ thị phải tổ chức kỷ niệm Pasteur. Việc in giấy mời, mời khách (chủ yếu người Pháp), chuẩn bị hội trường, diễn văn... dù làm khẩn trương nhất vẫn chỉ có thể tổ chức buổi lễ vào 15-12. Diễn văn của hiệu trưởng, ngoài ca ngợi Pasteur và “truyền thống hữu nghị Việt-Pháp” còn kết thúc bằng khẩu hiệu “khoa học không biên giới”. Bốn ngày sau, ta bất ngờ và chủ động đánh Pháp, khi hôm trước, 18-12, chúng gửi tối hậu thư đòi kiểm soát trị an ở toàn thành phố Hà Nội và nhiều điều láo xược khác.
Vài sự kiện. Trước đó, Pháp đã gây hấn bằng cách đánh chiếm Lạng Sơn, Hải Phòng, khiêu khích ở Bắc Bộ phủ. Từ tháng 11-1946 tình hình Hà Nội căng thẳng cao độ (Pháp bố trí súng máy chĩa vào cửa Bắc Bộ phủ, âm mưu bắt cóc và thủ tiêu cốt cán của ta, Bác Hồ phải tạm lánh ra ngoại thành (26-11-46). Hôm sau ta ra lời kêu gọi “Hỡi toàn quốc đồng bào! Những hành động của Pháp xâm phạm chủ quyền Việt Nam rất có thể lan rộng. Tình thế vô cùng nghiêm trọng. Hãy sẵn sàng chiến đấu để tự vệ bất cứ khi nào và chỗ nào”... Pháp rất muốn ta không kiềm chế nổi, tự phát đánh lại chúng khi ta chưa có sự chuẩn bị cần thiết.
Từ 2-12, quân Pháp từ các nơi điều về Hà Nội nhiều hơn, lập các ổ chiến đấu ở nhà Pháp kiều; báo chí Pháp ở Hà Nội công khai nói xấu chính phủ ta, xuyên tác các sự kiện. Tây “mũ đỏ” phá phách nhà thông tin Tràng Tiền và ba đêm liền cho xe rải truyền đơn khắp thành phố. Nhân dân Hà Nội được lệnh tản cư khỏi thành phố. 5-12, Hồ chủ tịch giao nhiệm vụ cho kỹ sư Trần Đại Nghĩa việc chuẩn bị quân dụng vũ khí cho cuộc kháng chiến.
Cho đến 15-12 Pháp tăng quân ở nhiều nơi; đánh chiếm Tiên Yên, Đình Lập, Đồ Sơn..., khiêu khích trắng trợn hơn ở Hà Nội. Ngày 16-12: Cao uỷ Pháp Đac-giăng-li-ơ tuyên bố Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng là lãnh thổ nước Pháp (!). Hà Nội sục sôi khí thế chiến đấu. Nhiều ổ đề kháng nhanh chóng dựng thêm, nhưng được lệnh hết sức kiềm chế. 15-12, ta còn tổ chức kỷ niệm Pasteur ở giảng đường đại học Y-Dược; 17-12: máy bay Pháp thám thính cả ngày trên bàu trời Hà Nội. Pháp đem quân và xe đi phá các ụ chiến đấu của ta ở Lò Đúc. Lính Pháp bao vây trụ sở Công an ta ở phố Hàng Đậu, đốt nhà dân ở khu Trúc Bạch, nã đại bác vào phố hàng Bún và bắt phụ nữ vào thành - nơi chúng chiếm đóng. Giọt nước làm tràn ly là ngày 18-12: Vẫn bao vây trụ sở công an phố Hàng Đậu, gửi tối hậu thư yêu cầu ta phá các ụ chiến đấu; đòi từ 19-12 ta phải giao nộp hết vũ khí; từ 20-12 sẽ đảm nhiệm trị an ở Hà Nội. Đêm 18-12, bác Hồ hoàn thành Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến.
Đêm 19-12, lúc 20.05’: cuộc kháng chiến toàn quốc nổ ra bắt đầu từ Hà Nội. 20.15’ công nhân nhà máy điện phá máy; đại bác từ pháo đài Láng và Xuân Tảo dội bão lửa vào trại lính Pháp trong thành; vũ trang ta đồng loạt tấn công các vị trí địch; tự vệ ta nổ mìn đánh đổ các cây lớn và cột điện; công nhân lật đổ các toa xe điện, nhân dân quăng đồ đạc ra đường... làm chướng ngại vật, làm chiến luỹ; dân quân ngoại thành nổi trống liên hồi, thúc giục tự vệ vào các cửa ô tiếp ứng cho bộ đội... Đêm đó lực lượng vũ trang ta đục tường các nhà dân cho thông từ nhà nọ sang nhà kia làm đường giao thông đánh địch.

TRƯỜNG Y DƯỢC TRONG NHỮNG THÁNG ĐẦU KHÁNG CHIẾN

Mục tiêu cuộc chiến đấu ở trong Hà Nội là kìm chân và tiêu hao sinh lực địch, để hậu phương kịp chuẩn bị đối phó khi chúng đánh rộng ra. Nội thành được chia làm 3 liên khu chiến đấu, trong đó ác liệt nhất là liên khu I, là nơi Pháp định bao vây tiến tới tiêu diệt lực lượng chiến đấu chủ lực của Hà Nội, cũng là của cả nước.

Liên khu 1 gồm 8 khu hành chính: Hoàn Kiếm, Đông Kinh Nghĩa Thục, Đông Thành, Đồng Xuân, Trúc Bạch, Long Biên, Hồng Hà, Bãi Giữa. Liên khu 2 là khu vực Nam Hà Nội, bắc giáp liên khu 1, đông theo hữu ngạn sông Hồng tới Vĩnh Tuy, phía tây dọc theo Hàng Lọng tới Kim Liên, phía Nam là các xã Hoàng Mai, Thanh Nhàn. Liên khu 3 ở Tây Nam thành phố, bắc giáp liên khu 1, đông giáp liên khu 2. Sau hai tháng chiến đấu trong lòng Hà Nội để kìm chân địch, Liên khu I bị địch bao vây rất chặt nhưng vẫn tìm được đường rút ra (qua gầm cầu Long Biên để qua sông Hồng). Tiểu đội du kích của Nguyễn Ngọc Nại làm nhiệm vụ đánh lạc hướng địch đã bị hy sinh toàn bộ.

Chính vì vậy các trạm phẫu thuật lưu động cũng được đặt tại các địa điểm trên các trục đường thuận lợi cho việc chuyển thương binh từ liên khu I tới, cũng như dễ dàng di chuyển về tuyến cao hơn ở phía sau. Tuy chưa có một ý thức rõ ràng về tổ chức các tuyến điều trị, nhưng tự nhiên việc cấp cứu chiến thương đã hình thành ba tuyến rõ rệt.

Trong nội thành Hà Nội, nhất là Liên khu I, đã hình thành được ba trạm cứu thương tại số 10 phố Hàng Bè (nhà riêng của thầy Nguyễn Hữu Thuyết), nhà Phú Lợi ở 18 Hàng Bè và nhà Nam Long ở phố Hàng Buồm. Trong những ngày đầu có sinh viên Nguyễn Văn Vân và Đào Huy Chân tham gia phục vụ dưới sự chỉ đaọ của bác sĩ Nguyễn Hữu Thuyết lúc đó phụ trách quân y trung đoàn Thủ đô và bác sĩ Đoàn Khắc Hiền.

Thuốc men được lấy từ nhà bào chế Phan Anh ở phố Hàng Bạc. Kháng sinh lúc này đã có Dagenan, Soludagenan, Sulfathiazine... Thuốc sát trùng khi hết thì dùng nước hoa Eau de Cologne thu lượm được từ các phố Hàng Đào, Hàng Ngang, Hàng Buồm, Hàng Bạc... Sau khi được điều trị sơ cứu bước đầu, thương binh được chuyển về tuyến sau do đội nữ tải thương khu Lãng Bạc đảm nhiệm. Một số được đưa đến bệnh viện Phủ Doãn (giả làm nạn nhân) lúc này do thầy Phạm Biểu Tâm được phân công phụ trách.

Đội nữ tải thương đã đóng góp rất nhiều công lao kể cả hy sinh xương máu đảm bảo đường dây liên lạc này cho đến khi trung đoàn Thủ Đô rút ra khỏi Hà Nội. Đêm đêm, từ phố Hàng Bè ra bãi cát ven sông Hồng, chui qua gầm cầu Long Biên lên tới đình làng Tứ Tổng (xã Tứ Liên, quận Tây Hồ Hà Nội bây giờ).

Từ đó, dọc theo đường đê lên trạm cứu thương và tiểu phẫu đóng ở Chèm và Vẽ, do các sinh viên Trịnh Kim Ảnh, Đỗ Bá Hiển, Nguyễn Đức Nguyên cùng hai y tá Ninh và Triệu phụ trách. Những trường hợp quá nặng được tiếp tục chuyển qua Yên Nhân, Đống Đồ lên bệnh viện tuyến sau ở Phúc Yên do thầy Đinh Văn Thắng phụ trách.

Một trạm tuyến sau (hậu phương) được tổ chức tại bệnh viện Việt Trì do thầy Đỗ Xuân Hợp phụ trách.

Còn phía nam, có trạm phẫu thuật do bác sĩ Vũ Đình Tụng (thầy cũ của trường) và sinh viên Vũ Đình Tuân phụ trách, đầu tiên đặt tại bệnh viện Bạch Mai, sau đó rút xuống Văn Điển.

Tại trạm này xảy ra một sự kiện gây xúc động và đau lòng. Anh Vũ Chí Thành, con trai thầy Vũ Đình Tụng, tham gia tự vệ chiến đấu bị thương trên chiến luỹ; được chuyển về đây, mặc dù được tận tình cứu chữa, nhưng vết thương quá nặng, anh đã hy sinh trước sự bất lực và nỗi đau đớn của cha và anh ruột mình.
Bác Hồ biết, đã viết thư chia buồn, động viên bác sĩ Vũ Đình Tụng. Bức thư, do đích tay Người đánh máy và sửa dấu, hiện nay vẫn được gia đình bác sĩ Tụng cất giữ trân trọng coi như một gia bảo.

Tuyến sau có trạm phẫu thuật tại Cầu Phùng (Đan Phượng) do bác sĩ Trần Hữu Tước phụ trách.

Biên chế chủ lực của trường Đại học Y Dược khoa và bệnh viện Phủ Doãn được tổ chức quy mô tại ba địa điểm:
- Trạm phẫu thuật A do bác sĩ Tôn Thất Tùng, bác sĩ Phạm Hữu Trí (hiện nay ở Pháp) phụ trách; và khi thầy Tôn Thất Tùng chuyển về Vân Đình xây dựng bệnh viện hậu phương, thì thầy Hoàng Đình Cầu thay thế. Trạm triển khai tại Cự Đà, Chuôn, Tre thuộc ứng Hoà (Hà Đông) có nhiệm vụ đón thương binh từ phía Tây Nam Hà Nội. Nhiều sinh viên y khoa đã làm việc và học tập tại trạm này, như: Đinh Văn Lạc, Nguyễn Văn Nhân, Đỗ Doãn Đại, Nguyễn Huy Phan, Nguyễn Như Bằng, Trần Quang Vỹ, Vưu Hữu Chánh, Phạm Văn Phúc, Vi Huyền Trác, Trần Bá Kỳ... và y tá trưởng Khang, các cô y tá Công, Hồng Lan, Tân... của bệnh viện Phủ Doãn. Khi chiến sự lan rộng, trạm chuyển vào Nông Cống (Thanh Hoá).
- Trạm phẫu thuật B do thầy Nguyễn Hữu phụ trách đóng tại Kim Lũ, Ngọc Bài (Sơn Tây) có nhiệm vụ đưa đón thương binh của mặt trận phía tây Hà Nội. Trạm này có các sinh viên: Trần Mạnh Chu, Nguyễn Văn Quảng, Nguyễn Tấn Hồng, rồi Nguyễn Văn Nhân, Đinh Văn Lạc tham gia. Trạm này đã làm việc rất căng thẳng, vất vả, vì số thương binh và nạn nhân chiến tranh chuyển về rất đông, nhưng trạm dã hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình. Có thời gian trạm chuyển về Đồng Quan và lưu lại đây khá lâu.

Qua một thư của thầy Nguyễn Hữu gửi thầy Tôn Thất Tùng (lúc này đã ở Chiêm Hoá), ta thấy trạm B đã làm cả các đại phẫu thuật. Riêng trong tháng 4 và tháng 5-1947 trạm đã mổ 147 trường hợp, tỷ lệ tử vong 4%. Sinh viên Nguyễn Văn Nhân nhớ lại: thầy Hữu rất hay “truy” sinh viên, sau đó lại giảng giải hết sức cặn kẽ. Dù chỉ là đứng ngoài xem thầy mổ, sinh viên vẫn thu nhận được rất nhiều điều bổ ích. Ai chưa thuộc bài sợ thầy truy, cố ý vắng mặt, thì học được rất ít.
Cũng có thầy chỉ cặm cụi tập trung vào việc mổ cho thương binh mà không giảng gì, Nguyễn Văn Nhân và Đinh Văn Lạc phải chia nhau: người phụ mổ, người đứng ngoài ghi chép đầy đủ các “thì” (temps) mà thầy đã làm; để sau đó hoàn chỉnh lại thành bài học.

Một bệnh viện hậu phương được thành lập tại Vân Đình do thầy Hồ Đắc Di và thầy Tôn Thất Tùng phụ trách. Đây là một cơ sở lớn, có nhiều trang bị phục vụ mổ xẻ được mang theo từ bệnh viện Phủ Doãn. Sinh viên y khoa và nhân viên kỹ thuật của trường và bệnh viện tập trung đông nhất ở đây. Ngoài những sinh viên từ các trạm A, B dần dần quy tụ về, còn có bác sĩ Đặng Văn Chung và các sinh viên Đỗ Dương Thái, Vũ Tam Hoán, Võ Như Tỷ, Trần Quang Việp ; các nữ nhân viên Đặng Thị Huyền, nữ hộ sinh quốc gia Nguyễn Thị Ngọc, Nga, Hồ, Nhung... và cựu y tá trưởng Thu là những nhân viên cũ của bệnh viện Phủ Doãn có nhiều kinh nghiệm về ngoại khoa và gây mê.

Ngoài ra tại các vị trí trọng điểm khác đều có sự tham gia của thầy trò trường Đại học Y Dược khoa. Phụ trách đội phó đội điều trị của Bộ tổng chỉ huy có sinh viên Nguyễn Xuân Ty. Tại mặt trận Hồng Quảng có bác sĩ Phạm Gia Triệu và sinh viên Đào Bá Khu. Sinh viên Vũ Triệu An tham gia tại mặt trận Hải Dương, trong đơn vị quân y do bác sĩ Ngô Như Hiền và y sỹ Đông Dương Lê Văn Khải phụ trách. Tại trạm phẫu thuật Vĩnh Yên có sinh viên Hoàng Tích Tộ phụ trách. Tại Nam Định ở đội phẫu thuật của bác sĩ Nguyễn Trinh Cơ có sinh viên Trần Văn Bảo tham gia...

Trong cuốn Lịch sử quân y, có đoạn viết: Bác sĩ trẻ tuổi Nguyễn Trinh Cơ với tay nghề khá vững đã phục vụ tận tuỵ. Trước những ca khó về phẫu thuật đã trăn trở miệt mài nghiên cứu tìm phương pháp cứu chữa thương binh, đã bộc lộ những nét đau buồn sâu lắng của người thầy thuốc trước những ca hiểm nghèo của thương binh, nhân dân, của những em nhỏ bị sát hại trong chiến tranh. Bác sĩ Nguyễn Trinh Cơ còn là tác giả của nhiều bài báo dưới dạng truyện và hồi ký, nói lên sự xúc động, căm thù của người bác sĩ quân đội trẻ tuổi đứng trước nỗi đau, nỗi mất mát của đồng đội, đồng bào. Tác phẩm "Em Ngọc", "Nhà M" đã được đăng trên nhiều báo rồi in thành tuyển tập đã gây nhiều cảm xúc cho người đọc và giới văn nghệ đánh giá cao về nội dung và cách thể hiện (trang 86).

Mặt trận lan rộng, các trạm phẫu thuật lưu động A và B rút về Vân Đình. Một bộ phận nhỏ rút theo bác sĩ Hoàng Đình Cầu về Đồng Quan, rồi Nông Cống, trong đó có sinh viên Nguyễn Văn Vân và Nguyễn Tấn Hồng.

Các thầy chuyên khoa ngoại đã phát huy tác dụng lớn trong chiến tranh, do vậy là những người rút sau cùng khi Pháp đánh rộng ra. Các thầy khác (Trần Hữu Tước, Nguyễn Xuân Nguyên, Đặng Vũ Hỷ, Tôn Thất Hoạt, Hoàng Tích Trí...), nhiều vị tập hợp quanh mình một số sinh viên lập ra các trạm cứu thương quanh mặt trận (trên đường tải thương), sau đó rút về khu 3, khu 4 và tham gia công tác ở đây; có vị phải đi theo cơ quan mà mình làm thủ trưởng: thầy Trí theo Bộ Y tế, thầy Hợp lên bệnh viện Việt Trì...

Nhìn tổng quát, sau hai tháng bị ta giam chân ở Hà Nội, quân Pháp đã phá được vòng vây và quyết tâm bình định vùng đồng bằng, nhất là các tỉnh quanh Hà Nội, trước hết là Hà Đông, nơi tập trung các đơn vị của trường. Nói chính xác hơn: trường, với tư cách các đơn vị cứu chữa, đã đóng ở vùng chiến sự diễn ra căng thẳng nhất.
Số y bác sĩ tham gia kháng chiến ban đầu khoảng 60 người, trong đó bác sĩ thuộc trường Y Dược (các thầy, và số mới được công nhận năm 1945 và 1946) chiếm quá bán. Số sinh viên còn đông hơn nữa - là lực lượng không thể thiếu...
Các đơn vị cứu chữa và điều trị dần dần liên kết để hình thành một mạng lưới, phù hợp với tình hình chiến sự và có các tuyến theo chiều sâu. Phát huy hiệu quả cao nhất là các trạm phẫu thuật (do bác sĩ ngoại khoa giỏi phụ trách, đóng gần mặt trận để có thể nhận thương binh không quá muộn), sau đó là bệnh viện dã chiến nhận các ca nặng đã được sơ cứu từ các trạm chuyển tới. Màng lưới phải thay đổi vị trí theo tình hình chiến sự, phải rút ra xa khi Pháp dần dần chiếm được Hà Đông và các tỉnh quanh Hà nội.
Về sự tham gia của sinh viên: Sinh viên các lớp trên đã có thể công tác độc lập hoặc là cánh tay phải của các thầy: Nguyễn Sĩ Quốc, Nguyễn Xuân Ty, Bùi Thế Sinh, Vưu Hữu Chánh, Trịnh Đình Chương, Nguyễn Danh Đàn, Phó Đức Thực, Nguyễn Lưu Viên, Đào Trọng Xuân...; sinh viên Y2 (vào trường 1945) đã có thể làm một số tiểu phẫu và rất đắc lực trong phụ mổ; thống kê ban đầu cho thấy số lượng lớp này lên tới trên 20 người. Còn sinh viên khoá vào trường 1946, tức Y1, cũng rất được việc” và tiến bộ rất nhanh qua phục vụ thực tiễn; số lượng lớp này khoảng gần 40 người.
Không nhất thiết họ bám theo các thầy (lúc đó ở các địa điểm thuộc Hà Đông), mà có thể phục vụ ở nhiều nơi khác: Nguyễn Thành Châm phục vụ ở mặt trận Trung Bộ, Y Tlam (Y2) trưởng quân y mặt trận Buôn Ma Thuột kiêm phụ trách bệnh viện, Nguyễn Văn Thụ phụ trách bệnh xá quân y của tỉnh Gia Lai....

Về dược, số thầy của trường tham gia kháng chiến không nhiều như các thầy khoa Y (có thầy Huỳnh Quang Đại, Trương Công Quyền), nhưng số sinh viên từ D1 đến D5 và cả sinh viên được công nhận dược sỹ năm 45 và 46. thì tham gia rất đông đảo (Nguyễn Trọng Bính, Nguyễn Đình Ân, Đặng Vũ Xích...). Mặt khác, do những đặc điểm riêng, khoa Dược trong mấy năm đầu kháng chiến chống Pháp được đặt dưới sự quản lý của Cục Quân Y.

Từ trước ngày nổ ra kháng chiến toàn quốc những vị có trách nhiệm đã lo mua dự trữ để có đủ thuốc men và các phương tiện dụng cụ y tế cho cuộc kháng chiến lâu dài. Dược sĩ Vũ Công Thuyết, dược sĩ Hoàng Xuân Hà cùng các đồng nghiệp đã bằng mọi cách có trong kho hơn sáu tấn thuốc và đã kịp chuyển khỏi Hà Nội trước ngày nổ súng. Trong việc này có sự tham gia rất tích cực của nhiều sinh viên khoa Dược. Một số sinh viên như Đặng Hanh Khôi, Hoàng Bá Long còn tham gia sớm hơn: phụ tá dược sĩ Vũ Công Thuyết ở Phòng bào chế tiếp tế đặt ở xã Phúc Lâm (Hà Đông), sinh viên Phan Hữu Đào phụ tá dược sĩ Nguyễn Sĩ Dư ở Ty bào chế dược ở miền Trung; sinh viên Vũ Ngọc Lộ làm việc ở Phòng Bào chế của Quân Y Viện trung ương, dưới quyền phụ trách của thầy Huỳnh Quang Đại,,,

Do đặc điểm phải di chuyển theo thuốc men, nhiều dược sĩ đã đi theo các đơn vị quân y như các dược sĩ: Nguyễn Trọng Bính, Trương Xuân Nam, Nguyễn Văn Luận, Huỳnh Quang Đại, Đỗ Tất Lợi, Đỗ Hữu Thế... và sinh viên Nguyễn Văn Đàn.

Tuy nhiên, trong những ngày đầu chiến tranh, tình hình nói trên cũng chỉ là một cuộc triển khai chiến đấu với quy mô chiều rộng của trường Đại học Y Dược để ứng phó kịp thời việc cấp cứu thương binh trong những trận đánh đầu tiên của cuộc kháng chiến. Chưa một ai hình dung nổi cuộc kháng chiến sẽ trường kỳ và còn gian khổ. Lực lượng và tài sản của toàn trường lúc này đều tập trung tại Vân Đình, nhưng phương hướng để hình thành, tồn tại, và tiếp tục hoạt động của trường trong kháng chiến thì cũng chưa có ai mường tượng được.

Lúc đó số đông trí thức còn chưa thấy hết cuộc kháng chiến sẽ trường kỳ, gian khổ, cho nên về tới đây (tạm yên ổn) ai nấy đều thở phào nhẹ nhõm nghĩ rằng đây là một hậu cứ an toàn. Mọi người bảo nhau: "Tây mà đến được đây thì chắc chắn chiến tranh cũng đã xong rồi". Ngờ đâu, chỉ một năm sau giữa núi rừng trùng điệp Việt Bắc, nhà trường vẫn phải di chuyển vì Tây vẫn tấn công và lùng sục.

HỘI NGHỊ VÂN ĐÌNH LỊCH SỬ VÀ ĐƯỜNG LÊN VIỆT BẮC

Cuối tháng 1 năm 1947, bác sĩ Vũ Văn Cẩn với tư cách Cục trưởng cục Quân Y về Vân Đình họp với các thầy của ông với tư cách lãnh đạo trường Y Dược: Hồ Đắc Di và Tôn Thất Tùng, để xác định nhiệm vụ trong thời gian trước mắt và ổn định việc cứu chữa thương binh. Từ đó, đề cập cả việc hoạt động lâu dài của trường.

Giáo sư Hồ Đắc Di sau này còn nhớ lại: "Lúc đó, không ai hình dung được là có thể tổ chức một trường Đại học trong rừng". Tuy từ nhiều năm trước đã sống trong hoàn cảnh chiến tranh, nhưng chỉ là gián tiếp, còn đây là lần đầu tiên mọi người phải trực tiếp tham gia kháng chiến mà không được chuẩn bị thích đáng cả về tinh thần lẫn vật chất. Về toàn quốc, việc quản lý hành chính và kinh tế bị đảo lộn và thực tế nhiều ngành (như đường sắt, xây dựng v.v...) không còn hoạt động nữa; chỉ có việc sơ tán nhân dân khỏi các vùng chiến sự là do uỷ ban di - tản cư các địa phương lo liệu. Trong tình hình đó, cuộc họp Vân Đình đã đi tới một quyết định duy nhất, và hoàn toàn đúng: Trường Đại học Y Dược khoa (không có ban Dược) sẽ tồn tại, phát triển và phục vụ sự nghiệp bảo vệ nền độc lập của đất nước.

Về biện pháp, trường sẽ dựa vào các trạm cứu thương, các bệnh viện, các đơn vị quân y làm nơi tập trung và thực tập của sinh viên (một kiểu bệnh viện thực hành thời chiến), lớp học sẽ tổ chức ở nhà dân hoặc đình chùa (bản thân giáo sư Hồ Đắc Di và gia đình cũng tản cư về ở nhờ nhà người quen ở Vân Đình).

Trên thực tế, trường đã được mở lại từ tháng 2 năm 1947, ở Vân Đình, như một thách thức đối với kẻ thù, với số sinh viên quy tụ ngày càng đông (tới 99 người ghi tên, thực có mặt là 66), có các bài giảng lý thuyết, có các bài thực hành trên lâm sàng (và tập sự tại trạm)... Có lẽ chưa nơi nào trên thế giới tổ chức một trường Đại học Y Dược khoa như vậy ít nhất là vào thời gian này (theo hồi ký của Giáo sư Tôn Thất Tùng, ngày ông đi thăm Triều Tiên là cuối năm 1951, bên đó cũng chưa tổ chức được trường Đại học Y mà phải nhờ chuyên gia y tế các nước anh em sang giúp). Thiếu tướng Vũ Trọng Kính (khi đó là Y1) nhớ lại: "Hồi đó, bộ giáo trình giải phẫu của Testut được coi là sách gối đầu giường, anh em chia nhau truyền tay để chép và vẽ. Thầy Đặng Văn Chung được phân công viết tập tài liệu Cấp cứu nội khoa và thầy Tôn Thất Tùng viết cuốn Cấp cứu ngoại khoa. Đó là tất cả gia tài lúc đầu. Nhiều năm sau, chúng vẫn là cẩm nang của chúng tôi"...

Nhưng trường hoạt động không được lâu. Ngày 2/3/1947, mặt trận tây nam Hà Nội bị vỡ; quân Pháp tràn ra tấn công đánh chiếm tỉnh lị Hà Đông, rồi nhảy dù Vân Đình, chặn con đường đi Hoà Bình. Nhà trường và Bệnh viện thực hành phải lui về cuối tỉnh Hà Đông, tại Hoà Xá - Đốc Tín, dọc theo sông Đáy để dễ dàng di chuyển thương binh bằng thuyền. Từ tuyến này cũng có thể rút về Chùa Hương hoặc lên Việt Bắc. Địch cũng lại từ Nam Định, Phủ Lý kéo lên, tiến theo sông Đáy...

Dường như ở cấp cao nhất đã thấy vai trò tương lai của trường Y Dược trong kháng chiến chống Pháp. Nó phải tồn tại và hoạt động, mà linh hồn của nó chỉ có thể là Hồ Đắc Di và Tôn Thất Tùng. Bởi vậy, từ Đốc Tín, trường nhận được “lệnh gấp” phải di chuyển lên Tuyên Quang; Cục Quân y cử cả người dẫn đường: sinh viên Nguyễn Xuân Ty. Ông này có cả lệnh “đặc nhiệm” (có quyền trưng dụng phương tiện di chuyển) do Đại tướng Tổng tư lệnh cấp. Đến đây, trường (không kèm bệnh viện thực hành) theo ông Ty lên Tuyên Quang; còn bệnh viện thực hành do giáo sư Tùng lãnh đạo đổi tên là "đoàn mổ xẻ lưu động Việt Bắc" chưa lên ngay, vì còn có thương binh đang điều trị.

Bác sĩ Nguyễn Xuân Ty đưa các gia đình thầy Di, thầy Tùng và gia đình ông Huyên (bộ trưởng Bộ Giáo Dục) với một số ít tài sản, tư trang. Cuộc di chuyển quy mô và đường dài lần đầu tiên này thật gian nan vất vả. Chỉ có một số ít nhân viên, người yếu, trẻ em và trang thiết bị, dụng cụ, sách vở... là được di chuyển bằng thuyền và phương tiện trưng dụng được, còn phần lớn đi bằng phương tiện tuỳ ứng hoặc đi bộ. Cũng may, lệnh của Võ đại tướng quả là lá bùa thiêng khi đi đường.
Bằng chiếc ca nô của Cục quân giới được trưng dụng ở dọc đường, đoàn đi từ Đốc Tín đến Phương Trung, thuộc huyện Quốc Oai. Lên bộ, vượt qua các làng Văn Lao, Võ Lao hướng về phía Chúc Sơn rồi vòng lại về Mông Phụ. Nghỉ một đêm tại nhà cụ Phan Kế Toại, đoàn tiếp tục qua Sơn Tây rồi vượt bến Trung Hà. Tại đây đoàn được bác sỹ Phạm Gia Lăng, phụ trách quân y vụ chiến khu X, dùng ôtô đưa lên Tuyên Quang, rồi Chiêm Hoá (cách thị xã Tuyên Quang trên 60 km). Cùng tới Chiêm Hoá lần ấy còn có giáo sư Nguỵ Như Kon Tum (lúc đó ông là Đổng lý Văn phòng của Bộ Giáo Dục, tương tự Chánh văn phòng ngày nay). Sau này, ông cũng có tham gia giảng dạy ở trường. Bác sĩ Đặng Văn Chung khi lên Chiêm Hoá còn mang theo bộ dụng cụ bơm khí màng phổi.
Trong cuộc di chuyển này, sinh viên Nguyễn Xuân Ty có công rất lớn, đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ do Cục Quân Y và Đại tướng Võ Nguyên Giáp trực tiếp giao cho.

Còn đoàn “mổ xẻ lưu động Việt Bắc” của bác sĩ Tôn Thất Tùng thì cơ động chủ yếu bằng xe đạp. Cũng do lúc đầu phải di chuyển cả thương binh (bằng thuyền), ta đã áp dụng với kết quả tốt một kinh nghiệm chuyên môn về bó bột kín mà trong chiến tranh 1936 các chiến sĩ Tây Ban Nha đã sử dụng để điều trị gãy xương hở. Thương binh được bàn giao dần cho các trạm dịa phương.

Từ Đốc Tín đoàn “mổ xẻ lưu động Việt Bắc” trở về Hoà Xá, định sang sông thì xe tăng Pháp đã kéo vây Hoà Xá và nổ súng. Đạp xe đến Ba Thá thì Tây cũng vừa bắn phá ở đây. Không dám dừng, “chạy” một mạch lên Đồng Mô rồi đến Sơn Tây vào ngủ nhờ nhà bác sĩ Nguyễn Văn ấu (khi đó là trưởng ty Y Tế tỉnh Sơn Tây). Đi khỏi Sơn Tây ít ngày thì nghe tin bác sĩ ấu bị quân Pháp sát hại.

Hồi đầu 1947, báo chí ta đưa tin: giặc Pháp đã sát hại 3 nhân sĩ trí thức của Việt Nam, do vậy gây sự phẫn nộ lớn trong dư luận. Người bị giết đầu tiên là luật sư Thái Văn Lung ở Nam Bộ (hiện ở Sài Gòn có một phố mang tên ông. Tiếp đó, đúng đêm 19.12.1946, tại Hà Nội khi nổ ra cuộc kháng chiến toàn quốc, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện, rất nổi tiếng về chuyên môn, hoạt động xã hội và lòng yêu nước từ thời Pháp thuộc đã hy sinh. Trong một dịp giáo sư Hồ Đắc Di tới chơi nhà ông, giáo sư tuyên bố sẽ hoàn toàn ủng hộ “cụ Hồ” (vì biết rằng Cụ chính là Nguyễn ái Quốc, trước đây giáo sư đã được gặp ở Paris), ông Luyện rất tán thành. Sau đó cả hai người đều được bầu vào quốc hội. Đêm 19. 12, giặc Pháp đã bao vây nhà bác sĩ Luyện và gọi hàng đích danh (có lẽ chúng định dùng ông làm một nhân vật trong chính phủ bù nhìn sau này), nhưng ông cùng hai con trai là sinh viên Giám và Minh (tự vệ khu phố) đã dùng súng chống lại; cuối cùng cả ba người đều bị giặc giết hại. Có lẽ đây là trường hợp duy nhất cả ba cha con hy sinh trong đêm đầu kháng chiến. Ngành Y tế cần làm sáng tỏ gương hy sinh này và cần đối xử xứng đáng hơn với ông (ít nhất cũng ngang với gương hy sinh của luật sư Thái Văn Lung). Người thứ ba là bác sĩ ấu, nghe nói khi thấy quân Pháp sát hại dã man đồng bào, ông lớn tiếng mắng chúng (ông rất giỏi tiếng Pháp), lập tức chúng bắn chết ông.

Đoàn đến Phú Thọ thì Phú Thọ vừa bị oanh tạc. Đến phủ Đoan Hùng, đoàn phải ẩn nấp và nếm trận bom dữ dội đầu tiên. Đến Tuyên Quang chưa được một ngày thì thị xã cũng bị bom. Cuối cùng đoàn lên làng ải, thuộc huyện Chiêm Hoá.

Về việc dường như Đoàn đi tới đâu cũng gặp máy bay Pháp ném bom thì hoàn toàn không phải chúng dõi theo sự di chuyển của đoàn phẫu thuật này. Thực ra, sau khi chiếm được nhiều tỉnh đồng bằng, Pháp bắt đầu dùng không quân đánh phá các địa điểm quan trọng ở Việt Bắc, chuẩn bị cho cuộc tấn công của chúng lên căn cứ địa cách mạng, nơi có trung ương và chủ lực của ta.

Sau cuộc "trường chinh" này bác sĩ Tôn Thất Tùng nhận được một lá thư của Bác Hồ, chữ đánh máy màu tím, như sau:
"Bác sĩ Tùng,

Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Bộ trưởng Bộ y tế báo cáo: chú làm việc rất hăng hái. Tôi rất vui lòng. Chú cứ gắng sức. Kháng chiến nhất định thắng lợi. Tổ quốc sẽ nhớ công con hiền, cháu thảo.
Thím và các cháu vẫn mạnh khoẻ chứ? Tôi luôn luôn bình yên.
Gửi chú và thím lời chào thân ái và quyết thắng.

Giáo sư Hồ Đắc Di cũng được gặp Bác Hồ sau khi lên Việt Bắc. Cuộc gặp gỡ đã để lại cho giáo sư ấn tượng rất sâu sắc. Ông nhớ lại: "Tôi vừa được gặp Bác Hồ, và lần đầu tiên trong đời, tôi nghe thấy bốn chữ "Tự lực cánh sinh". Đó chính là phương châm hành động và tồn tại của trường không những chỉ trong kháng chiến chống Pháp mà còn mãi mãi về sau này.

NĂM HỌC ĐẦU TIÊN CỦA KHOA Y Ở VÙNG KHÁNG CHIẾN

Đây là lần định cư thứ nhất của nhà trường tại Chiêm Hoá, đúng ra là từ huyện lỵ Chiêm Hoá còn vào sâu thêm 5 hay 6 km nữa (làng ải; cách tỉnh lỵ Tuyên Quang gần 70km).

Làng Ải, sau cách mạng tháng 8 thuộc xã An Lạc (hồi đó nhiều làng ghép lại thành một xã), nhưng dân chưa quen dùng, vì vậy các thế hệ sinh viên đến nay chỉ quen gọi là làng ải. Dẫu sao tên gọi An Lạc cũng là cái điềm trường sẽ “an cư” và “lạc nghiệp” ở nơi này. Phong cảnh làng ải rất đẹp. Có ngòi Quẵng quanh co, nước xanh, bờ cát, chảy ra sông Gâm. Có nhiều đồi và đâu đâu cũng là rừng. Rừng núi hoang vu, chỉ thấy một màu xanh, thỉnh thoảng mới thấy thấp thoáng tà áo chàm của người dân tộc. Ra khỏi nhà là ngửi thấy mùi lá mục và cảm giác ẩm ướt dưới chân, nhưng muỗi rừng cũng chẳng thiếu và nếu trời mưa những đàn vắt vươn vòi sô đến mỗi khi nhận thấy có hơi người.
Theo Sơ lược lịch sử y tế Việt nam thì ở rừng quanh làng ải đặc biệt nhiều hổ; những đêm động trời, tiếng gầm gào của hổ trong đêm khuya nghe đến rợn người. Theo hồi ký của một số sinh viên khoá 1950, ban đêm sinh viên không dám ra khỏi nhà để tiểu tiện, cứ đứng trên sàn “giải quyết“ luôn xuống sân - trâu bò thiếu muối đến nghếch mõm hưởng cái nguồn bổ sung quý giá này. Khi bị hiệu đoàn phê bình, họ có sáng kiến dự trữ vài cái ống nứa, sáng ra đi đổ sớm.
Khi đó rừng chưa bị tàn phá, tuy có hổ, nhưng thực ra không nhiều như mọi người nghĩ. Suốt 8 năm, chưa ai bị hổ vồ; trâu bò dù thả rông cả ngày lẫn đêm, vẫn khá an toàn. Một vài lần theo từ ngữ người dân gọi là “ động rừng “ hổ về tận làng, cõng trâu, bắt lợn của dân và đã tát chết con chó của thầy Tùng. Khẩu súng các bin của thầy Tùng (để tự vệ) chủ yếu dùng bắn chim và thú nhỏ.

Lúc này đã có quyết định trường Đại học Y Dược khoa tiếp tục hoạt động, kèm theo quyết định cố nhiên là kinh phí. Một bệnh viện thực hành phục vụ cho việc giảng dạy được dựng lên. Chỉ còn thiếu phòng thí nghiệm là ở đây có một “trường đại học trong rừng” hoàn chỉnh. Điều này được thực hiện vào năm 1950, khi giáo sư Đặng Văn Ngữ từ Nhật về nước. Sinh viên từ các nơi được lệnh tập trung về. Và họ cơ động bằng đôi chân là chính..

Mỗi lần tấn công lên Việt Bắc, Pháp thường dùng hai hướng: hướng Thái nguyên, Bắc Cạn và hướng Phú Thọ, Tuyên Quang (theo quốc lộ 2 và sông Lô). Do vậy, trường không thể đặt ở thị xã Tuyên Quang như đã từng dự định mà chọn Chiêm Hoá. Đó là thị xã của huyện Chiêm Hoá, nằm khá xa (60km) về phía trên thị xã Tuyên Quang. Tuy nhiên, trường không đóng ở chính thị xã Chiêm Hoá mà ở làng ải, cách thị xã 5 km. Không xa làng ải, là nơi Trung Ương đóng (gọi là An toàn khu được bảo vệ tốt). Mỗi khi thầy Tùng và ông Huyên đi họp chính phủ có thể dũng xe đạp (mất tối thiểu một ngày). Khu vực Đầm Hồng, phía trên Chiêm Hoá khoảng 10 km là nơi có các cơ quan tài chính Trung Ương. Tóm lại, Chiêm Hoá là một địa điểm nằm giữa lòng Việt Bắc, gần các cơ quan Trung Ương, xa các trục giao thông thuỷ bộ lớn, rất an toàn cho việc đặt địa điểm bệnh viện và trường; nhưng sinh viên từ các mặt trận về Chiêm Hoá để bổ túc thì rất vất vả.

Được nhân dân đùm bọc, tre nứa rừng không thiếu; thêm nữa, sinh viên Võ Như Tỷ trước đây học kiến trúc sau chuyển sang học Y, đã thiết kế khu trường, khu nhà mổ, bệnh viện thực hành rất giản dị nhưng rất khang trang thoáng mát. Cụ Ba Viên, thợ mộc đi theo trường đã đóng cho bác sĩ Tùng một bàn mổ rất đẹp. Chiếc xe đạp ông mang từ dưới xuôi lên được dùng để "phát sáng" cho nhà mổ. Y tá gây mê là cụ Thu của bệnh viện Phủ Doãn.

Thực ra, ngay tháng 5.1947, trường đã tái giảng, dựa vào bệnh viện tỉnh Tuyên Quang; lúc đó có 25 sinh viên. Nhưng ngày 14.5.1947, địch nhảy dù Phú Thọ và Việt Trì, trường lại phải lên Chiêm Hoá. Tới ngày 20.5, chỉ còn 11 sinh viên, tới tháng 8 mới tăng lên 28 và sang tháng 9 tăng lên 53.

Nhà các thầy ở bên kia ngòi Quẵng, có một dẫy “phố” tranh tre của dân Hà Nội tản cư lên, dường như sống bám vào trường. Dẫu sao đây vẫn là đồng bào yêu nước dám bỏ thủ đô ra sống cuộc đời kháng chiến gian khổ. Bên này ngòi có các “giảng đường” thời chiến, bệnh viện thực hành, nhà ở của sinh viên; năm 1950 sinh viên khoá này làm một “nhà Đình”, bên dưới là “đại giảng đường” của họ, tầng trên (sàn) là chỗ ở; nhiều người nằm lỳ trên sàn vì không muốn dự các bài giảng về vật lý nguyên tử của thầy Kon Tum ở dưới (nhưng vẫn được “nghe” rất rõ). Sau đó, còn mọc lên “viện nghiên cứu” của thầy Ngữ. Có thời kỳ sinh viên Trịnh Kim ảnh ngày ngày có nhiệm vụ chở mảng sang đón các thầy; về sau nếu là mùa nước cạn thì cụ Di xắn quần tự lội sang giảng bài.

Các kỳ thi lên lớp được mở trong các tháng 6, 8 và 9/1947 cho 43 sinh viên. Thi tốt nghiệp bác sĩ y khoa năm học 1946-1947 được tổ chức ba đợt: có 6 người tốt nghiệp.

Ngày 20/5/1947 có các ông Đào Trọng Xuân (sau trở thành trưởng ban quân y đại đoàn 308) và Trịnh Đình Chương (lúc đó phụ trách Quân y trung đoàn 112 Tuyên Quang, có quân y viện 150 giường tại thị xã Tuyên Quang) ; ngày 15/7/1947 có các ông Nguyễn Tăng ấm (phụ trách ban Quân Y Bộ Tổng chỉ huy) và Phó Đức Thực (phụ trách Ban Quân Y Bộ Quốc Phòng, đã mất hai năm sau, lúc mới 27 tuổi và được lấy tên đặt cho bệnh viện cơ quan Bộ Quốc phòng). Ngày 28/7/1947 có các ông Phạm Phú Khai (năm 1951 phụ trách phân viện Quân Y K72 đóng tại Yên Định, Thanh Hoá) và Vưu Hữu Chánh (phụ giáo của trường, kiêm phụ trách “Quân y đại học” và có thời gian phụ trách Giáo vụ hoặc tham gia hiệu đoàn). Năm học 1947-1948 có ông Nguyễn Lưu Viên thi tốt nghiệp ngày 25.9.1947. Trường cũng chấm thi tốt nghiệp nha sĩ cho bà Hoàng Thị Thục và ông Võ Như Tỷ. Năm 1952 chỉ cho thi y sỹ cao cấp, năm 1954 do sự “đấu tranh” của Hiệu đoàn, Bộ Giáo Dục lại cho thi bác sĩ. Tuy nhiên, không thể gọi hết những người đủ niên hạn về thi vì sinh viên không thể bỏ nhiệm vụ chỉ vì kỳ thi ra trường. Thực tế, có mang danh bác sĩ cũng không hưởng thụ gì hơn bạn bè cùng khoá. Sau này, dù thi muộn vẫn được công nhận đúng niên hạn.

Thi tốt nghiệp BS. Y khoa ở vùng kháng chiến

NĂM HỌC KỲ NGÀY THÍ SINH
1946-47 I 20-5-47 Đào Trọng Xuân, Trịnh Đình Chương
  II 15-7-47 Nguyễn tăng ấm, Phó Đức Thực
  III 28-7-47 Phạm Phú Khai, Vưu Hữu Chánh
1947-48 I 07-9-48 Chu Văn Tích
  II 14-8-48 Trần Vỹ, Đặng Văn ấn
1949-50 I 05-10-49 Vũ Văn Ngũ, Bùi Thế Sinh
  I 12-11-49 (Nha sĩ) Hoàng Thị Thục, Võ Như Tỷ
1950-51   ? Vũ Tam Hoán
1951-52   ? Y sĩ cao cấp : Trần Quang Vỹ, Trần Trọng Hùng
1954     BS : Nguyễn Văn Đức, Nguyễn Văn Thụ, Trần Quang Vỹ, Nguyễn Xuân Bích, Nguyễn Quý Hưng (+ 2 người)

Việc thi tốt nghiệp bác sĩ và sự tồn tại của trường đại học Y Dược vùng kháng chiến nhanh chóng được giới y học Pháp ở Hà Nội biết tin. Trong một cuộc gặp gỡ trao đổi tin tức của tù binh Pháp do lãnh sự Anh, Trevor Wilson, làm trung gian tại Cầu Đuống ngày 4/10/1947, bác sĩ Huard, đại diện hội Hồng Thập tự Pháp đã nhờ đại diện quân đội ta (trung uý Điền Ngọc) chuyển lời hỏi thăm và nhiệt liệt khen ngợi trường Y Dược Việt Nam. Bác sĩ Huard không quên gửi tặng bác sĩ Tôn Thất Tùng một tút thuốc lá Cotab và một số thuốc cho hội Hồng Thập tự Việt Nam (DDT và thuốc ỉa chảy); ông cũng ngỏ ý nếu bác sĩ Tùng cần sách vở thì sẽ xin cố gắng kiếm, mặc dù việc mua sách bên Pháp không dễ.

KHOA DƯỢC NĂM ĐẦU KHÁNG CHIẾN

Theo thoả thuận của 3 Bộ Giáo dục, Y tế, Quốc phòng thì Cục Quân y quản lý và đào tạo tiếp các sinh viên dược, gồm cả tuyển sinh mới.

Phải nói rằng để Cục Quân Y làm việc này là hợp lý trong tình hình lúc đó. Bộ Giáo Dục có nhiệm vụ rất nặng nề là lo phát triển bậc tiểu học (tiến tới mỗi xã một trường) và trung học (tiến tới mỗi huyện một trường) nên rất khó có kinh phí để tạo cơ sở vật chất, tìm thầy, nuôi ăn sinh viên để đào tạo họ thành dược sỹ. Ngược lại, Cục Quân Y đang quản lý nhiều thầy, có kinh phí lớn (của quốc phòng), có cơ sở thực tập: kho, xưởng bào chế, lại đang rất thiếu nhân viên dược cao cấp (có thể trông cậy vào sinh viên).

Lúc đầu, việc đào tạo dược sĩ định giao cho một thầy lâu năm của trường là dược sỹ Chương Văn Vĩnh (với sự phụ tá của sinh viên Nguyễn Văn Đàn); cố nhiên, ông phải nhập ngũ. Trên thực tế, dược sĩ Vĩnh đã đóng góp một số công sức trong sản xuất thuốc cho nhu cầu kháng chiến trong những ngày đầu. Đến khi Pháp tấn công Việt Bắc (mở đầu là nhẩy dù Bắc Cạn, 1947) thì dược sĩ Vĩnh bỏ hàng ngũ kháng chiến, vào Hà Nội. Cục Quân Y đã cử dược sĩ Vũ Công Thuyết (lúc này đang là cục phó) làm hiệu trưởng, và dược sĩ Nguyễn Trọng Bính (đang phụ trách phòng bào chế khu X) làm hiệu phó của “ban Quân dược đại học”. Thực tế, người “chạy việc” chủ yếu là dược sĩ Bính. Ông phải thôi công tác cũ để đi tìm một địa điểm ở trung du, về tận khu III và IV để tìm sách vở, tài liệu, và kiếm nhân viên. Năm 1948, cơ sở đặt tại làng Hanh, thuộc xã Đào Xá, huyện Phú Bình - Thái Nguyên do sinh viên Nguyễn Hữu Thiệu và Đặng Hanh Khôi tìm được; xây dựng cơ sở xong, giao cho sinh viên D3 Nguyễn Văn Đàn quản lý với sự trợ giúp của hai sinh viên D2 là Nguyễn Hữu Thiệu và Nguyễn Xuân Tiến. Sinh viên về đây, cũng như sinh viên Y ở Chiêm Hoá, đã tích cực xây dựng cơ sở, tham gia mọi công việc quản lý nội bộ (hành chính, quản trị, giáo vụ, đời sống...). Khi khai giảng có 30 sinh viên ghi tên. Ban có 6 giảng viên là các ông Huỳnh Quang Đại, Vũ Công Thuyết, Hoàng Xuân Hà, Đỗ Tất Lợi, Nguyễn Trọng Bính và Đặng Đức Dục, tất cả đều đang ở quân ngũ và đều là thầy kiêm nhiệm.

Nhược điểm khó khắc phục là tất cả các thầy đều giữ nhiều trọng trách nên việc giảng dạy chỉ là kiêm nhiệm, không ai coi việc đào tạo là công việc chủ yếu của mình. Dược sĩ Nguyễn Trọng Bính (công nhận 1945) có đóng góp rất lớn cho Quân Y ngay từ những ngày đầu, và đến nay vẫn đóng góp rất lớn trong xây dựng cơ sở vật chất và tổ chức trường, nhưng số thâm niên còn mỏng, hiểu biết sâu về dược học còn hạn chế, do vậy chưa đủ uy tín gánh vác nhiệm vụ đào tạo. Một số sinh viên lớp trên chưa phục. Vài năm sau, thầy Trương Công Quyền sẽ rất thích hợp cho vị trí này.
Thầy Đặng Đức Dục, tuổi cao, không quản ngại vất vả, vẫn từ xa đến trường dạy học, tác phong tỷ mỷ, được sinh viên rất kính phục và cảm thông. Các kỹ thuật viên Bùi Đình Sang, Trương Văn San đã có tuổi, với tay nghề vững chắc và mẫu mực được sinh viên tin yêu, khâm phục, biết ơn - không khác gì quan hệ của sinh viên Y đối với cụ y tá Thu, maman Ngọc ở bệnh viện thực hành Chiêm hoá.

Do số sinh viên Dược không đông, nên có thể đặt lớp ở đình làng Hanh, hầu hết sinh viên ở nhờ nhà dân. Hàng năm, sinh viên từ năm thứ nhất (mới tuyển) đến năm thứ 3 được về học nửa năm rồi đi công tác thực tế nửa năm (ở các đơn vị sản xuất, kho, ban quân dược trung đoàn...). Sinh viên các lớp cao hơn thì chỉ học các lớp “đoản kỳ” ( ngắn hạn ). Tham gia giảng dạy có các dược sĩ Vũ Công Thuyết, Huỳnh Quang Đại, Đỗ Tất Lợi, Nguyễn Trọng Bính... Hướng dẫn thực hành có các dược sĩ: Trần Lâm Huyến, Nguyễn Văn Luận, Đỗ Hữu Thế... Ngoài ra còn có dược sĩ Đặng Đức Dục và sinh viên Nguyễn Văn Đàn phụ trách phòng thí nghiệm. Chương trình đào tạo vẫn dựa theo chương trình cũ tuy nhiên có lược bỏ những phần không cần thiết. Thời gian học tập là 5 năm: năm đầu thực hành cơ sở (gọi là năm “tập sự”) và 4 năm vừa về học chuyên môn tại trường vừa công tác tại các cơ sở Dược (gọi tắt là D1 - D4).

Ngày 30.8.1948, trường mở một kỳ thi kết thúc năm tập sự dược học cho các sinh viên tập sự từ niên khoá 1946-1947 và các sinh viên tập sự đủ 9 tháng tính đến 30.8. Có 5 sinh viên trúng tuyển (Ngô Gia Trúc, Nguyễn Văn Hợi, Phó Bá Long, Nguyễn Khoa Thông, Ngô ứng Long). Ngày 1.11.1948 mở kỳ thi sát hạch năm thứ nhất lên năm thứ hai, có 5 người trúng tuyển là các sinh viên Đặng Hanh Khôi (có thời gian hoạt động tại mặt trận Huế, sau có công tác trong phòng bào chế - tiếp tế, di chuyển từ Ba Thá lên Tuyên Quang, có thời kỳ làm trưởng ban tiếp tế thuộc phòng Dược chính, Cục Quân Y), Phan Hữu Đào (trước có thời kỳ hoạt động tại mặt trận Huế, trong chiến dịch Trung Du, làm khoa trưởng khoa Dược Chính), Nguyễn Văn Đàn (về sau là Thứ trưởng Bộ Y tế ), Đinh Ngọc Lâm (có thời kỳ phụ trách Ban Kế hoạch thuộc Phòng Dược Chính, cục Quân Y) và Bùi Hồng (không rõ làm gì). Những khoá sau, sinh viên thi kiểm tra viết tại ban Quân Dược và thi vấn đáp tại Chiêm Hoá trước Hội đồng giám khảo do giáo sư Hồ Đắc Di làm chủ khảo.

Mỗi khi sinh viên tập trung về trường các giảng viên chỉ giới thiệu, giải đáp, rồi hướng dẫn tự học, tự nghiên cứu. Do vậy, một yêu cầu rất lớn là phải có đủ tài liệu. Ngoài những tài liệu có sẵn sinh viên có thể mượn, đọc, ghi chép (chủ yếu tiếng Pháp), trường còn in thêm tài liệu để phát. Sinh viên Nguyễn Văn Hợi, với sự giúp sức của sinh viên Bạch Quang Chiểu đã hoàn thành rất tốt nhiệm vụ ấn loát này.

Sinh viên Hợi gắn bó với trường rất sớm, ở trường khá lâu, sau này đã đem kinh nghiệm đó đi xây dựng thành công trường trung cấp dược. Bộ phận ấn loát của ông Hợi có tên COTALO (công ty ấn loát); cũng in bằng đất sét nhưng do khéo tay, nên người của ban in đã viết chữ ngược trực tiếp lên mặt đất sét, in ra được 20 bản rõ nét.
Sau học lý thuyết và kỹ thuật, sinh viên lại “đi thực tập”, nhưng sự thật là trở về công tác tại các cơ sở và phục vụ các chiến dịch (quy định nửa năm, nhưng thực tế thường lâu hơn thế; do vậy đợt sau họ không được về trường đủ 6 tháng như quy định, mà có khi còn phải học lớp “đoản kỳ” trong một hay vài tháng). Thời gian đi “thực tập”, họ gánh vác rất nhiều nhiệm vụ kháng chiến - gian khổ, bỡ ngỡ và trưởng thành; không khác và không kém các sinh viên y khoa. Có sinh viên phụ trách xưởng bào chế, phụ trách kho, hoặc lãnh đạo thu chiến lợi phẩm y dược ở cả một mặt trận (Nguyễn Hữu Thiệu), hay phụ trách công tác dược của cả một sư đoàn (Nguyễn Xuân Hiền). Tiện đây, cần nhắc tới một số sinh viên dược khoa được cử đi công tác vào tận khu 5 hay Nam Bộ, trong số này có những người đến 1954 mới ra miền Bắc “học tiếp” và thi tốt nghiệp (Phạm Văn Số, Nguyễn Kim Phát, Bùi Quang Tùng... ở Nam Bộ, Phan Hữu Đào, Đinh Ngọc Lâm, Phan Doãn... ở khu V).

Nói chung, số sinh viên Dược không đông như sinh viên Y

Thống kê năm 1954 cho kết quả như bảng dưới đây:

KHOÁ SỐ SINH VIÊN KHOÁ SỐ SINH VIÊN
Tới 1945 6 Khoá 1948 11
Khoá 1946 6 Khoá 1949 19
Khoá 1947 9 Khoá 1950 20
1951-1954 Không tuyển sinh Tổng cộng 71

Hội đồng chấm thi dự định sẽ do giáo sư Hồ Đắc Di làm chủ khảo. Thành viên hội đồng là dược sĩ Nguyễn Trọng Bính, lúc đó là Giám đốc Ban Quân dược Đại học - và các cán bộ phòng Dược chính của Cục quân y.

Năm 1947, ban Dược có các khoá sau: khoá trước 1945 và 1945 (Nguyễn Văn Kỳ, Hoàng Như Tố, Nguyễn Văn Đàn, Phan Hữu Đào, Đặng Hanh Khôi, Đinh Ngọc Lâm, Bùi Hồng...); khoá 1946 (Đoàn Hữu Sử, Ngô Gia Trúc, Vũ Ngọc Lộ, Nguyễn Huy Chý, Nguyễn Văn Hợi, Ngô Ứng Long) lúc này đã hết năm tập sự. Khoá mới tuyển vào năm tập sự (Nguyễn Hữu Bảy, Trần Ngọc Bẩy, Nguyễn Xuân Hiền, Lê Văn Thuần, Nguyễn Hữu Thiệu, Nguyễn Khoa Thông, Nguyễn Xuân Tiến, Đỗ Viết Trang, Trịnh Thế Trụ). Tất cả đều được lên lớp với điểm số khác nhau.

KHAI GIẢNG NĂM HỌC 1947-48 CỦA BAN Y.

Ngày 6.10.1947, lễ khai giảng niên khoá 1947-1948 được tổ chức trọng thể, có mặt đại diện Chính phủ, là Bộ trưởng Bộ quốc phòng kiêm Tổng Tư lệnh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng Bộ Trưởng Bộ Y Tế Hoàng Tích Trí, Thứ Trưởng Bộ Giáo Dục Nguyễn Khánh Toàn, Cục Trưởng Cục Quân Y Vũ Văn Cẩn…. Năm học này có 17 sinh viên ghi tên, cộng với 3 sinh viên các khoá trước bị đứt đoạn học tập nay lại học tiếp. Tuy nhiên, không phải họ đã có mặt đầy đủ hôm khai giảng. Ngoài ra, một số lớn sinh viên các lớp trên không thể bỏ nhiệm sở về dự khai giảng. Trước các quan khách, thầy Tùng, thầy Chung, và 67 sinh viên các lớp (không có sinh viên Dược) giáo sư Hồ Đắc Di đã đọc diễn văn (tiếng Pháp).

Hôm trước, sinh viên Vũ Triệu An còn thấy cụ Di vừa đi bách bộ vừa lẩm nhẩm đọc trước bài diễn văn. Do vậy, đây là diễn văn lịch sử, vì nó được soạn thảo công phu để trình bầy đầy đủ tư tưởng và quan điểm của người sáng lập trường Y Dược kháng chiến.

"... Trường Đại học Việt Nam luôn trung thành với chính mình, nghĩa là với truyền thống trí thức, vị tha và khoan dung. "Thực tế khoa học" cũng như "thực tế trí thức" là cơ sở của mọi hành động cũng như mọi triết lý, nhạy cảm với mọi nhịp đập, mọi đau khổ và niềm vui của Tổ quốc, ý chí luôn vươn tới Độc lập, tới chiến thắng; nhưng không vương vấn ý muốn chinh phục, mưu toan thống trị mà chỉ có lòng căm giận cảnh nô lệ và tình yêu tự do. Có thể tóm tắt con đường của trường Đại học trong một công thức đơn giản: hiểu Cái Thật và Cái Đẹp để thực hiện Cái Tốt.
Trường Đại học là một cộng đồng tập hợp thầy và trò cùng nguyện vọng học hỏi, đạt được bằng thảo luận tự do để tự khẳng định mình trong việc nhận định các giá trị cao cả có thực. Các khái niệm chính xác về các giá trị tinh thần đó là bí quyết của tinh thần Đại học...".

Quan hệ thầy-trò và phương châm giáo dục được trình bày như sau:

"... Chính trong lao động tập thể sẽ phát triển tình cảm thân thiện giữa thầy và trò, gắn bó họ với nhau bởi những mối quan hệ quý mến và hữu nghị, không hề có chỗ cho sự quỵ luỵ. Trong mối quan hệ đó, ý thức phê bình, bông hoa đẹp nhất của trí tuệ cần được nở rộ hoàn toàn tự do. Nhưng trường Đại học không phải là một sự pha trộn các trường phái, không phải là một trung tâm phân phát kiến thức và kỹ thuật, nó còn phải là một trung tâm nghiên cứu, vì dạy và nghiên cứu là anh em sinh đôi, giảng đường chỉ là tiền sảnh của phòng thí nghiệm..."

Các sinh viên ngoài 20 tuổi có lẽ không hiểu hết ý nghĩa sâu sắc qua những ngôn từ uyên bác trong diễn văn, kể cả những sinh viên đang dỏng tai nhất (vì họ là khoá 1947, vừa mới vào trường), như Phạm Văn Cự, Nguyễn Kim Đương, Phạm Gián, Phạm Tràng Giang, Nguyễn Kim Khánh, Vũ Phong, Hoàng Kim Phụng, Nguyễn Đình Quang, Bùi Xuân Tám, Vũ Nhật Thăng, Đào Gia Thìn, Nguyễn Hữu Toại, Nguyễn Duy Tuân, Hoàng Phúc Tường, Đỗ Hoài Nam, Nguyễn Văn Hải, Đào Đan Chi) và 3 sinh viên các khoá trước nay nhập vào khóa 1947 là Võ An Dậu (khoá 1946), Đỗ Dương Thái (1946) và Phạm Thế (1944).

Nhưng năm học vẫn chưa tiến hành được vì ngay hôm sau, địch nhảy dù Bắc Cạn, mở đầu cuộc tấn công thu đông lên Việt Bắc. Tuy địch chưa tới nơi, nhưng việc Võ đại tướng tức tốc rời trường khiến thầy trò thấy được tình hình sẽ không yên. Một trong 2 gọng kìm của địch là binh đoàn Com-muy-nan theo sông Lô và quốc lộ 2 nhằm hướng Tuyên Quang, ở đó có An toàn khu (nơi các cơ quan đầu não của ta đóng). Trường đang tập trung 67 sinh viên nên phải phân tán, sau khi họ được phát đầy đủ sinh hoạt phí của cả tháng. Một số sinh viên về với gia đình ở dưới xuôi, một số ở lại với trường, hoặc tản ra các xã quanh vùng. Trường đại học, nhưng lại không có kế toán, thủ quỹ, nên đích thân hiệu trưởng Hồ Đắc Di phải giữ số tiền quỹ quá lớn và phải lo bảo vệ nó.

Vài ngày sau, một mũi tấn công của địch từ thị xã Tuyên Quang lên thẳng làng ải, vào một buổi sáng sương mù chưa tan hết; nhưng trước đó trường đã kịp cất dấu kho tàng (chẳng có bao nhiêu) và nhờ dân sơ tán bệnh nhân vào rừng; các nhân viên và gia đình họ (có gia đình cụ Di, thầy Tùng, ông Huyên...) cũng tạm lánh như vậy. Chúng lùng sục, gọi loa “chiêu hàng” đích danh 2 nhân vật: GS Hồ Đắc Di và GS Tôn Thất Tùng.

Rõ ràng, trong cuộc chiến tranh này, cả ta và địch đều hiểu rất rõ vai trò của trường, cũng như vai trò hai cá nhân trên. Vấn đề là thái độ của hai nhân vật lịch sử đó. Việc Pháp đi “một mạch” lên đến làng ải, thì có nhiều suy đoán: chúng trinh sát và đã phát hiện hoặc do có “Việt gian” nằm vùng chỉ điểm; còn bác sĩ Vưu Hữu Chánh đoán rằng có thể do bác sĩ Huard biết trường ở đó...

Lúc đó cả gia đình cụ Di, ông Tùng đều nấp kín trong bụi rậm cách địch không xa, đến mức có người nghĩ rằng chỉ cần một tiếng ho phát ra thì tất cả sẽ bị bắt. Sau này cụ Di kể lại: nếu chúng phát hiện ra mình thì mình có thể tự sát, nhưng còn tiền quỹ lọt vào tay chúng thì sao?

Kết quả của trận càn: thuốc men dụng cụ còn nguyên vẹn, nhân viên nhà trường và bệnh viện đều an toàn, một bệnh nhân bị địch bắn chết, một vài nhà bị đốt. Gà lợn của dân bị bắt một số.

Cái binh đoàn Com-muy-nan khét tiếng ấy còn nán lại vùng Chiêm Hoá, Đầm Hồng tới cuối tháng 10, do đường sông bị cắt (phải dùng máy bay thả dù tiếp tế). Cuối cùng, nó bị tiêu diệt thảm hại do bị phục kích trên đường rút theo sông Lô, sông Gâm, làm nguồn cảm hứng sáng tác cho Văn Cao; nhờ đó ta có bài trường ca Sông Lô bất hủ.

Ngày 10/10/1947, Hồ chủ tịch gửi thư thăm hỏi và động viên bác sĩ Hồ Đắc Di, Tôn Thất Tùng và tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên. Bức thư bắt đầu bằng “chủ tịch chính phủ” và “thưa các ngài”, và kết thúc bằng “Tôi gửi lời thăm các thím, hôn các cháu và thăm các anh em sinh viên...”.

CHỦ TỊCH
CHÍNH PHỦ VIỆT NAM
VĂN PHÒNG
VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Số 432-M Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 1947

CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ
Kính gửi: Bs Huyên, Bộ trưởng Bộ QGGD;
Bs Tùng, Thứ trưởng Bộ Y Tế;
Bs Zi, Giám đốc Đại học Vụ;

Thưa các Ngài,

Cuộc tấn công mùa đông của địch đã thực hiện như chúng ta đã đoán trước. Chính vì biết trước nên chúng ta không nao núng. Dù sao trong lúc đầu, những nơi chưa quen tiếng súng thì dân sự không tránh khỏi ít nhiều hoang mang. Vậy xin các Ngài sang giải thích cho đồng bào ở vùng đó hiểu.

Nam Bộ cách xa Chính phủ trung ương, địa thế lại kém và trước đây chuẩn bị cũng kém thua Bắc Bộ, mà lực lượng kháng chiến phát triển và củng cố khá mau thì Bắc Bộ nhất định phát triển và củng cố mau hơn nữa.

Việc liên lạc với các Ngài và việc khai hội đồng, tôi đã dặn kỹ chú.... (chữ bị mờ, không đọc được). Cuộc kháng chiến nay đã vào bước gay go mà chúng ta đã đoán định trước. Đó là một cuộc thử thách tinh thần và lực lượng của chúng ta. Đồng thời sự gay go đến sớm chừng nào tốt chừng ấy.

Trong cuộc thử thách này, mọi anh em ta phải tỏ ra cái chí khí "bách chiết bất hồi", cái tinh thần nhân lao nãi khổ. Đối người đối việc phải hết sức cẩn thận. Không bao giờ cẩu thả, cầu yên. Không sợ địch mà cũng tuyệt đối không khinh địch.

Chúng ta đã thắng lợi nhiều thử thách trước. Thì với sự đồng tâm hợp lực của Chính phủ, của quân đội và của toàn dân, chúng ta sẽ nhất định thắng lợi trong cuộc thử thách này.

Tôi nhờ các Ngài lập tức chuẩn bị, nếu địch đi qua đó, để giữ gìn gia quyến và toàn thể anh em sinh viên được an toàn. Phải có kế hoạch cẩn thận.

Chào thân ái và quyết thắng.
Ký tên HỒ CHÍ MINH

TB - Tôi gửi lời thăm các thím. Hôn các cháu và hỏi thăm các anh em sinh viên.

(Tư liệu của Trung tâm lưu trữ quốc gia 2)

Không ngờ, hồi ấy ở dưới đồng bằng lại khá yên ổn. Té ra, ngày đầu chiến tranh Pháp không có nhiều quân lắm, đồng bằng bị “rỗng” khi chúng vét quân tấn công Việt Bắc. Ngoài trận càn vào quân y viện Thư Điền do thầy Hỷ phụ trách và vài trận lẻ tẻ khác, nói chung tình hình khu III yên tĩnh. Ông Lê Văn Hiến (bộ trưởng Tài Chính) từ khu III viết thư cho bác sĩ Tùng, mời bác sĩ và vài vị khác về khu III cho an toàn.

“...Được tin Pháp đến Chiêm Hoá và chúng lùng đến cơ quan các anh, chúng tôi rất lấy làm lo. Nhưng sau nghe (nói) các anh Huyên, Di và anh đều được thoát nạn sau những ngày lẩn lút vất vả trong rừng, chúng tôi rất đỗi vui mừng. Nếu tình hình trên ấy không yên tĩnh lắm mà bọn Pháp cứ lục lọi để tìm các anh, thì tôi tưởng anh nên mau mau thu xếp và tìm đường xuyên sơn để về liên lạc với dưới này.. .. chúng tôi rất mong tin tức của các anh Huyên, Di và anh...”
Kèm thư, có cả tiền để ba gia đình làm lộ phí về xuôi. Nhưng số tiền đã được chi phí cho trường, chứ không phải thanh toán như khoản công tác phí. Chẳng gia đình nào bỏ Việt Bắc về khu III.

Địch rút khỏi Tuyên Quang 21 tháng11 thì hơn 10 ngày sau, ngày 3.12.1947, trường đã tái giảng tại địa điểm cũ. Những sinh viên tạm lánh dưới xuôi lại trở lên, còn rủ thêm được nhiều người. Ngày 17.3.1948 đã tổ chức thi tốt nghiệp bác sĩ cho ông Nguyễn Danh Đàn (sau phụ trách Quân Y mặt trận Bình Trị Thiên năm 1950). Đến đầu tháng 6.1948 đã có 76 sinh viên và ngày 21.6.1948, các kỳ thi sát hạch cuối năm học được tổ chức: 20 sinh viên được lên năm thứ hai, 32 sinh viên lên năm thứ ba, 18 sinh viên lên năm thứ tư và 3 sinh viên lên năm thứ năm, tất cả có 73 người được lên lớp. Không có sinh viên hai năm cuối vì anh em hoặc đã được điều động đi chiến trường, hoặc đang làm việc tại các cơ sở quân dân y.

Các kỳ thi tốt nghiệp bác sĩ năm học 1947-1948 tiếp tục được mở cho tới ngày 14.9.1948, có các ông Trần Vỹ (ông này cuối năm 1946 phục vụ tại trạm phẫu thuật lưu động của bác sĩ Hoàng Đình Cầu tại vùng ứng Hoà, Hà Đông) và Đặng Văn ấn (sau này là trưởng khoa X quang bệnh viện Bạch Mai). Như vậy tổng số bác sĩ tốt nghiệp năm học 1947-1948 là 4 người (kể cả ông Nguyễn Lưu Viên thi sớm hơn).

Cách thức học hành của sinh viên hồi đó nói chung là: năm đầu tiên, tuỳ tình hình chiến sự, được học ở trường từ 7 đến 11 tháng liên tục (trừ khoá 1946 được học quá ít và khoá 1952 được tập trung 18 tháng). Phải hết sức tranh thủ nghe giảng ở lớp, ghi chép cật lực, sau đó còn phải ngày đêm ghi lại (tóm tắt) từ các cuốn sách có ở thư viện. Các cuốn sách bị sinh viên “quần” đến nát là: sách Giải phẫu của Rouvière và Testut, sách Triệu chứng học của Sergent, Bệnh học ngoại khoa của Forgue và Patel, nhất là sách về ngoại khoa thời chiến của Quénu, Lejars... vân vân.

Một nguồn tài liệu khác là nhưng tập tự ghi của các “đàn anh lớp trước”. Đó là những tập giấy pơ luya “Mỹ” (để khỏi nặng và khỏi dễ bị nát khi hành quân) với chữ viết nhỏ li ti (để ghi được nhiều) dùng mực Parker (để khỏi nhoè khi giữ lâu hoặc khi bị ướt). Nó quý ở chỗ đàn anh đã tóm tắt (bằng tiếng Pháp) sau khi đã tiêu hoá và hấp thu phần tinh tuý nhất. Tập nào càng cũ càng quý, chứng tỏ nó không bị chủ nhân quẳng đi vì vẫn còn rất đắc dụng. Việc thực hành ở bệnh viện của thầy Tùng thì “từ thấp lên cao”, nhưng ai cũng cố học nhiều để nhanh chóng được phụ mổ, rồi nếu may mắn thì được mổ vài ca dễ. Gương tầy liếp là các đàn anh đã phải giải quyết những ca quá sức mình mà không có ai là giỏi hơn về chuyên môn ở bên cạnh để hỏi han.

Kể ra, học như trên là quá sức với Y1. Thời nay, sinh viên Y1 khó mà hiểu nổi, nhưng lại là sự thật với các bậc tiền bối. Các vị rất biết cần học gì để hoàn thành trách nhiệm, và đã tự thiết kế lấy kế hoạch học tập của mình; không thể tất cả trông vào thầy. Số thầy quá ít, ngoài hai giáo sư ngoại khoa, sau thêm giáo sư Đặng Văn Ngữ, chỉ còn có thầy Vưu Hữu Chánh là trong biên chế trường. Các thầy đã tự vắt kiệt sức rồi. Tuy năm nào trường cũng giữ lại một số sinh viên lớp trên làm phụ giáo: Nguyễn Dương Quang, Đỗ Quang, Trần Quang Vỹ, Trần Trọng Hùng, Đinh Văn Chí, Nguyễn văn Phan, Phạm Thuý Liên...v.v. nhưng rồi họ nhấp nhổm chỉ muốn xin ra trận, duy có sinh viên Phạm Thuý Liên là ở trường lâu nhất (theo giáo sư Vũ Triệu An thì có lẽ ông Liên phải ở lại để lãnh đạo chi bộ).

Về ăn uống, sinh hoạt, chỉ một số ít sinh viên có “lương khô” do gia đình cấp cho (vài ba chỉ vàng); do vậy thỉnh thoảng có thể cải thiện bằng bánh cuốn bà Phán Tảo hay phở chú Tám (là Hoa kiều, được giáo sư Tùng mổ cứu sống, nên chú quý mến tất cả nhân viên và sinh viên của trường; hễ thầy Tùng vào ăn, bao giờ chú cũng làm một tô “tặc piệt”). Còn đa số hoàn toàn trông cậy vào tiền sinh hoạt phí được cấp phát (230 đồng một tháng), tạm đủ, hay thừa ra chút ít để đôi khi có thể ăn thêm chút quà. Sinh viên quân y có sinh hoạt phí khá hơn, lại được cấp cả trang phục, nên có người còn dè sẻn nuôi được em trai ăn học. Tuy nhiên, tình hình này chẳng kéo dài được bao lâu. Đồng tiền mất giá rất nhanh. Tất cả thầy trò dần dần đều được nếm trải những ngày rất gian khổ, thiếu thốn. Có lớp, sinh viên nữ trở thành “chuyên gia” vá quần áo rách cho các bạn nam giới để họ đi vác gạo và cuốc đất tăng gia thay mình.

Chính phủ kháng chiến không có nguồn thu nào đáng kể, mà chủ yếu là sự quyên góp và sự ủng hộ của dân (số thóc thu được khoảng 1 vạn tấn thóc/năm, thời giá năm 2002 là 30 tỷ đồng, hoặc 2 triệu U$D); các khoản chi thì ngày càng lớn (ví dụ: số thóc dùng cho chiến dịch biên giới tới 3 vạn tấn). Chỉ còn cách in thêm thật nhiều tiền, mà không thể thu thuế (dân cũng nghèo, không thể bắt họ đóng góp quá sức); do vậy sức mua của đồng tiền tụt dốc rất nhanh. Sinh viên quân y cũng gian khổ và sau đó thì tất cả đều là quân y (theo sắc lệnh của Hồ chủ tịch trưng dụng họ vào bộ đội).
Tuy sinh hoạt phí có tăng nhưng còn cách xa sự tăng giá tự phát của thị trường (trong vòng 8 tháng, học bổng từ 230 tăng lên 350 đ/tháng, đủ nói lên tốc độ lạm phát). Thế là, tất cả được quy ra gạo để đảm bảo cuộc sống ở mức tối thiểu. Thầy hiệu trưởng được lĩnh cả thảy trên 60 kg/tháng; thầy Tùng, thầy Ngữ 58 kg. Mỗi bậc lương hơn nhau 1-2 kg gạo, thì có thể suy ra sinh viên khổ đến mức nào (23 kg gạo/tháng, trong đó số gạo “thực lĩnh” là 15-18kg). Đó là nói từ năm 1948, 1949. Sau này, việc tự tăng gia và chế độ tự quản khiến sinh viên có sự cải thiện đáng kể: gạo lĩnh ở kho về (mỗi người được 15kg) bằng cách cho vào cái quần cũ, buộc túm hai ống quần lại rồi côông kêêng nó lên vai, đem về nhập kho. Số gạo còn lại được lĩnh bằng tiền để mua mắm muối, thức ăn. Mức ăn do quản lý xuất kho hàng ngày để các chị cấp dưỡng nấu cho. Ai cũng biết món canh sắn: củ sắn nấu nhừ với chút mỡ, rồi nêm muối (thừa củi, nhưng lúc đó chưa có mì chính). Dầu đèn và giấy mực do trường phát. Ai cũng cố tự sắm cái bút máy Wearever, sang hơn thì có bút Pilot hay Parker để ghi chép cho nhanh. Các bác sĩ tương lai không ai viết ẩu (như chữ bác sĩ) mà đều cố viết cho thật li ti để ghi được thật nhiều trên một trang giấy.
Hai năm sau, sau chiến dịch biên giới (1950), ta thông với Trung Quốc và có chủ trương thu thuế nông nghiệp, công thương nghiệp để tăng ngân sách và nhờ vậy cuộc sống của thầy trò đã cải thiện hơn.

TRƯỜNG CHUYỂN SANG TRUNG GIÁP. NĂM HỌC 1948-1949

Được sự chấp nhận của chính phủ, kèm kinh phí di chuyển và xây dựng. Tư liệu còn lại cho thấy bộ Tài Chính vất vả lo khoản kinh phí này như thế nào, qua đó cũng thấy vị thế rất lớn của trường. Tháng 9.1948 trường chuyển về xã Trung Giáp huyện Phù Ninh, Phú Thọ. Địa điểm ven sông Lô này có những cánh rừng gỗ và rừng cọ rất rộng. Bệnh viện thực hành được xây dựng rất đẹp bằng tre nứa lá tại trung tâm; xung quanh là nhà ở và lớp học; có thêm một tiền trạm đóng tại Phú Hộ, cách xã Trung Giáp hai cây số, để đón nhận thương binh ở mặt trận Việt Trì, Trung Hà, Sơn Tây chuyển về theo quốc lộ số 2. Lúc này giặc đã chiếm Trung Hà (thuộc đất Sơn Tây mà chúng đã bình định được phần lớn), lập thành căn cứ, đang lăm le sang sông chiếm Việt Trì (thuộc đất Phú Thọ). Trung Hà mới cách đó 2 năm còn là nơi “trường” (do sinh viên Ty dẫn đường) qua sông để sang địa đầu Việt bắc, nay đã bị địch chiếm.

Ngày 15/10/1948, Bộ Quốc Gia Giáo Dục ra Nghị định số 1128/ZY-TD chính thức quyết định xây dựng hai bệnh viện thực hành cho trường: Bệnh viện thực hành A do bác sĩ Tôn Thất Tùng làm giám đốc ở Ngòi Quẵng và ở cơ sở Trung Giáp. Bệnh viện thực hành B ở Nông Cống (Thanh Hoá) do bác sĩ Hoàng Đình Cầu làm giám đốc (gắn với trường y sĩ Liên khu 3-4).

Khởi đầu chuyện chuyển về Trung Giáp là do một số sinh viên trong hiệu đoàn tỉ tê thuyết phục thầy Di chuyển trường về xuôi, nhưng họ cũng chưa rõ “xuôi” cụ thể là ở đâu. Lý do không nói ra là để cuộc sống anh chị em đỡ khổ, lý do công khai là “để thu hút sinh viên trong Hà Nội ra học”(!). Thầy Di “độp” lại ngay: chẳng biết các anh “hút” họ ra vùng kháng chiến, hay chính các anh lại bị họ “hút” vào Hà Nội. Tuy nhiên, khi được trường báo cáo, ông thứ trưởng bộ Giáo Dục Nguyễn Khánh Toàn vẫn yêu cầu điều tra cẩn thận vùng huyện Phù Ninh coi thử có nơi nào phù hợp. May mắn, ở đây có cụ điền chủ yêu nước Đào Đình Quang sẵn sàng đưa cả nhà cửa, đồi nương cho trường sử dụng, chỉ xin cho 2 con mình - đã có bằng tú tài - được vào trường. Thực ra hễ có bằng tú tài thì chỉ việc ghi tên nhập học, chẳng cần xin. Cuối cùng, mọi người tìm được địa điểm Trung Giáp, báo cáo lên bộ Giáo Dục, và được chính phủ đồng ý, với khoản kinh phí không nhỏ để di chuyển và xây dựng. Sinh viên Võ Như Tỷ lại có dịp trổ tài vẽ mẫu nhà.
Và đã thành lệ, bệnh viện thực hành của nhà trường đóng ở đâu là nhân dân tìm đến rất đông để chữa bệnh. Nhiều quán hàng tranh thủ "mọc" xung quanh với các món ăn "thủ đô" sẵn sàng phục vụ các quý khách... nghèo; cũng có nghĩa là phố Quẵng ở Chiêm Hoá sẽ trở nên tiêu điều hơn...
Rồi những đêm liên hoan của thầy trò mà giáo sư Hồ Đắc Di gọi là "sinh hoạt vui thú tư tưởng". Có những đêm trăng bờ sông, chàng sinh viên mang đàn guitare ra gẩy, và lẽ tất nhiên xúm xít xung quanh có những cô nàng xinh đẹp. Đời cứ tươi.

Năm học 1948 - 1949 khai giảng ngày 6.10.1948, ở Trung Giáp, số sinh viên thực tế có mặt hôm đó là 70.Năm thứ nhất, tức khoá mới tuyển có mặt 18 người. Năm thứ hai có mặt 20; năm thứ ba có mặt 32.

Trong số “lính mới tò te” người ta thấy có các tên trong danh sách như Tôn Thất Duy, Đào Đình Đức, Trịnh Xuân Giáp, Nguyễn Xuân Hiền, Nguyễn Văn Hoá, Nguyễn Xuân Huyên, Hoàng Kỷ, Hà Văn Mạo, Đỗ Quang, Hoàng Trọng Quỳnh, Đặng Tấn...). Nhưng một số khá đông các lớp đàn anh chỉ “có tên” mà không “có mặt”. Đã bắt đầu xuất hiện mâu thuẫn: sinh viên đến kỳ về học, thậm chí đã nhận được giấy gọi, nhưng đơn vị không thể giải quyết cho về. Hiệu đoàn biết rõ cũng đành chịu vì không ai quan niệm nổi chuyện bỏ nhiệm vụ để về học; khổ nỗi, không về học thì sau đó rất khó mà hoàn thành những nhiệm vụ cao hơn. Đơn vị quân y biết rõ điều ấy cũng đành chịu.
Các lớp trên đang tập sự và làm tại các bệnh viện, các trạm, dù không vê học và thi, đều vẫn được nhà trường công nhận “đã lên lớp”. Tuy đó cũng là một cách giải quyết cho phù hợp thực tế, tránh thiệt thòi cho sinh viên, nhưng sinh viên không mấy ưa thích vì họ thích về trường hơn...

Trong năm học này, lần đầu tiên, môn Chính Trị được đưa vào chương trình chính khoá do thứ trưởng bộ Quốc Gia Giáo Dục Nguyễn Khánh Toàn trực tiếp giảng dạy. Sinh viên tiếp thu rất tốt và rất hoan nghênh. Năm học mới bắt đầu được ít ngày thì có tin địch nhảy dù, chiếm Việt Trì. Chúng đã cắm một chân vào đất Việt Bắc.

Từ đó, Việt Trì thành một căn cứ bàn đạp lớn của địch để chúng tấn công lên Việt Bắc, vì Việt Trì là nơi hội tụ của sông Hồng, sông Lô và quốc lộ 2 - đó là những đường (thuỷ, bộ) rất thuận tiện cho ca nô và cơ giới địch lên Phú Thọ, Đoan Hùng, rồi Tuyên Quang. Thường thì địch lợi dụng mùa thu-đông (ít mưa, đường khô ráo) để tấn công ta.
Từ Việt Trì theo quốc lộ 2 lên đến Phú Hộ chỉ có 33 km, rẽ phải 3 km là tới Trung Giáp; nếu địch dùng đường sông Lô thì quãng đường cũng tương tự. Như vậy trường ở vào vị trí luôn bị đe doạ. Việc giảng dạy bị hay bị gián đoạn suốt thời gian sau đó chính là do nguyên nhân này.

Trường buộc phải tạm đình giảng “để nghe ngóng”. Địch ở Việt Trì chưa động tĩnh gì, nên đến ngày 8.11 trường lại được phép tái giảng và việc học được tiếp tục tới hết tháng 12.1948. Đầu năm 1949, chính phủ lại ra lệnh tạm đình giảng tất cả các trường để đề phòng cuộc tấn công thu - đông. Trong hai tháng ngừng học (tháng 1và 2), sinh viên lại đi thực tập tại các trạm, các đơn vị phẫu thuật lưu động ngoài tiền tuyến, tổ chức chủng đậu, khám sức khoẻ và chữa bệnh cho dân địa phương. Sinh viên mới vào học thì làm công tác truyền bá vệ sinh. Tuy nhiên thu-đông năm ấy địch không tấn công ra xa mà tập trung củng cố cứ điểm Việt Trì.

Ngày 5.3.1949, trường vừa mới tái giảng được hai tháng ở Trung Giáp thì ngày 3.5.1949, khi đã sang hè, địch mở chiến dịch Pomone, theo quốc lộ 2 và theo sông Lô. đánh lên Phú Thọ và trường ta nằm kẹt giữa hai gọng kìm này.

Rất may là trường theo quốc lộ 2 chạy ngược lên phía trên, nhằm hướng Đoan Hùng và Tuyên Quang sớm hơn vài giờ trước khi địch tới Trung Giáp đốt phá (theo hồi ức của giáo sư Nguyễn Dương Quang thì chỉ sớm nửa giờ). Không thể cứ chạy bộ trước mũi tiến công cơ giới của giặc, lại thêm chúng vừa nhẩy dù chiếm Đoan Hùng, chặn đường lên Tuyên Quang, trường phải bỏ quốc lộ để rẽ trái vào xã Đại Lục, gần Đào Giã, cách quốc lộ khoảng 5 km, đóng ở đấy. Địa điểm dừng lại để rẽ trái có tên là Cầu Hai, còn cách Đoan Hùng 20 km. Nhờ vậy trường đã tránh được mũi tiến công, bảo đảm an toàn về người và những phương tiện quý nhất kể cả hai cái máy chữ, năm 1952 kiểm kê chất lượng được đánh giá là còn “mới” 30%. Chính ở Đại Lục, một sinh viên khoá 1947 đã hy sinh, được công nhận liệt sĩ.

Trường đóng ở Đại Lục không lâu, tuy có giảng dạy, nhưng ít sinh viên vì họ chưa biết địa điểm này để quy tụ về và rất nhiều sinh viên y kháng chiến không có kỷ niệm với Đại Lục, thậm chí chưa đến đấy bao giờ. Khi tình hình yên ổn, trường quay lại Trung Giáp, tận dụng cơ sở cũ, tiến hành nốt năm học 1948-1949 đầy biến động. Điều ngạc nhiên là trong hoàn cảnh như vậy, trường vẫn tổ chức được các kỳ thi cho năm học này, kể cả thi tốt nghiệp.

Đó là Nghiêm Tằng Lẫm. Khi xung quanh yên ắng làm mọi người phân vân “địch đã rút chưa”; muốn biết rõ phải có người đi thăm dò, thì sinh viên Nghiêm Tằng Lẫm thấy không ai khác ngoài mình ra - một đảng viên cộng sản. Anh cầm súng dò dẫm ra khỏi trường chưa đầy vài trăm mét thì bị địch phát hiện, bắn chết. Nhờ nghe tiếng súng, trường lẳng lặng rút vào sâu hơn. Và lại an toàn.
Đến nay chưa rõ mũi tiến công cơ giới và bộ binh theo quốc lộ 2 của địch lên Việt Bắc vì sao lại có một nhánh rẽ sang phải để vào Trung Giáp. Rất nhiều ý kiến cho rằng chúng biết có trường Y ở đây.

Các kỳ thi “lên lớp sớm” năm học 1948-1949 bắt đầu mở ngay từ cuối tháng 5-1949 (lẽ ra, là tháng 7 hay 8). Ban giám khảo gồm các vị: Hồ Đắc Di, hiệu trưởng, làm chủ khảo ; Tôn Thất Tùng, Nguỵ Như Kon-Tum, giáo sư, làm uỷ viên (nhưng hồi đó gọi là phân khảo) và Vưu Hữu Chánh (phụ khảo). Vì cần một số sinh viên Y4 đủ trình độ phụ trách một trạm cứu thương /phẫu thuật, đủ sức độc lập ra mặt trận, nên mới có kỳ thi “sớm” này cho số sinh viên năm thứ ba lên năm thứ tư. Có 32 người trúng tuyển nhưng vẫn được phép tiếp tục học tới tháng 8 cho thật sự vững vàng mới sang Quân Y nhận công tác. Họ có chức danh mới: “Y sỹ cao cấp”. Các thầy đều hiểu đây là dấu hiệu quân đội ta đang lớn mạnh, và sẽ có đánh lớn. Điều ứng nghiệm là chiến dịch biên giới và nhiều chiến dịch được mở ra liên tiếp sau đấy, từ 1950 trở đi (làm thay đổi thế chién lựoc hai bên).
Các kỳ thi khác tổ chức từ ngày 18.7.1949 cho các sinh viên từ năm thứ ba trở lên. Có 13 người ghi tên dự, trong đó có: năm thứ ba lên năm thứ tư: Ngô Vi Đại (đến năm 1951 trở thành trưởng ban huấn luyện của Cục Quân Y), Nguyễn Quý Hưng, Đỗ Nguyệt, Nguyễn Công Thắng (hai năm sau đã phụ trách đội điều trị 9 trong chiến dịch Hà Nam Ninh), Lê Đình Tiềm. Một người vắng mặt vì ốm là sinh viên Nguyễn Gia Quyền (năm đó đã là trưởng ban Quân y trung đoàn 165 trong trận Phố Ràng, thuộc chiến dịch sông Thao. Ngày nay chắc không ai dám giao cho sinh viên Y3 làm việc đó). Thi năm thứ tư lên năm thứ 5 có: Nguyễn Thành Châm (trưởng ban cán bộ Cục Quân y), Từ Giấy, Đào Bá Khu (1953 đã là đội trưởng đội điều trị 1 trong chiến dịch Điện Biên Phủ), Nguyễn Khắc Lung (sau đó trở thành phụ trách quân y đại đoàn 320), Nguyễn Sỹ Quốc, Bùi Hữu Yến (sau đó làm Viện phó Phân viện 4 tại Đại Đồng, Phú Thọ). Thi năm thứ 5 lên năm thứ 6 có: Nguyễn Sĩ Quốc. Trường hợp ông Quốc là thi dồn 2 năm làm một. Ngày 3.9.1949, thi lên lớp được 18 sinh viên từ năm thứ nhất trở lên. Kỳ 6.10.1949 được 2 sinh viên năm thứ tư và năm thứ năm và kỳ 3.11.1949 được 24 sinh viên từ năm thứ nhất trở lên (báo cáo ngày 22.11.1949 của trường). Như vậy, theo báo cáo này, có 90 sinh viên đã đạt kết quả các kỳ thi lên lớp năm học 1948-1949.
Thi tốt nghiệp bác sĩ năm học 1948-1949 được tổ chức 2 kỳ: Kỳ thứ nhất vào ngày 7.9.1949 có ông Chu Văn Tích (trong chiến dịch Việt Bắc, làm quân y trưởng trung đoàn 72 Bắc Cạn) tốt nghiệp. Kỳ thứ hai, ngày 5.10.1949 có các ông Vũ Văn Ngũ và Bùi Thế Sinh tốt nghiệp (trong chiến dịch Việt Bắc, hai ông là quân y trưởng và phó trung đoàn 174 Cao Bằng). Do in ấn khó khăn, các bác sĩ tân khoa được hoãn trình luận án đến khi hết chiến tranh. Kỳ thi tốt nghiệp nha sĩ mở ở Chiêm Hoá ngày 12.11.1949 có bà Hoàng Thị Thục (phòng Nha khoa Quân y viện Liên khu 10, sau đổi thành phân viện 4) và ông Võ Như Tỷ (đã đi theo đoàn phẫu thuật của bác sĩ Tôn Thất Tùng từ đầu kháng chiến lên Chiêm Hoá, sau khi thi làm trưởng ban Quân y trung đoàn 101 nổi tiếng. Đã hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ, 1966).

Có hai điều được rút ra: thứ nhất là trường đại học không thể cứ di chuyển nay đây mai đó. Trung Giáp không yên ổn nữa, cuối cùng, tháng 10-1949 trường quyết định trở lại Chiêm Hoá. Tháng 11-1949, khai giảng niên khoá 1949-1950 ở đây và thứ hai, không thể để sinh viên suốt 6 năm cứ lĩnh học bổng (dưới dạng sinh hoạt phí); nhất là khi “sinh viên” đã phụ trách các chức vụ cao trong quân y. Do vậy, trường Y-Dược và Cục Quân Y thống nhất như sau, được Bộ Giáo Dục và chính phủ chấp nhận: sinh viên học hết hai năm đầu được công nhận là y sĩ trung cấp (nhờ vậy, hưởng chế độ đãi ngộ khác so với sinh viên mới vào trường, đồng thời đủ tư cách “đàng hoàng” nhận lãnh các chức vụ), học hết bốn năm - là y sĩ cao cấp (đủ năng lực để được đề bạt trưởng ban quân y trung đoàn, đội trưởng phẫu thuật trung đoàn, hoặc cao hơn).

Quy định thêm: sau này, y sĩ cao cấp phải về trường học tiếp 3 năm, trình luận án và thi tốt nghiệp để thành bác sĩ. Khi hoà bình lập lại, nhiều y sĩ cao cấp đã trình luận án ra trường kiểu này vào những năm từ 1955 đến 1958, nhưng không ai phải “học tiếp 3 năm” vì họ đã là Y8 hay Y10.
Các văn bản trong thời kỳ kháng chiến liên quan đến thi tốt nghiệp luôn nhắc đến yêu cầu trình luận án, coi như một điều kiện bắt buộc để có thể được công nhận bác sĩ (hiểu là tiến sĩ). Điều này thể hiện quan điểm đào tạo của những thầy tiền bối và được các thầy nhắc lại nhiều lần :"...việc giáo dục ở bậc đại học còn phải nhằm mục đích xa hơn, rèn luyện "óc nghề" cho người cán bộ, đào tạo cho họ biết nghiên cứu khoa học"... và "Trường Đại học không thể chỉ là nơi dạy khoa học đã hình thành mà còn phải là nơi hình thành khoa học" (Hồ Đắc Di: Tâm sự với các đồng nghiệp trẻ ).

Bằng cách công nhận sinh viên là y sĩ như trên, Quân Y ta chính thức có thêm rất nhiều cán bộ (bác sĩ, y sĩ), nhưng vẫn rất thiếu so với nhu cầu. Chính phủ đã giải quyết bằng cách mở hai trường trung cấp. Đối tượng tuyển sinh là những người đã học hết trung học cơ sở (do vậy, trong vài khoá đầu học sinh có vốn tiếng Pháp rất khá), học 2 năm, ra trường gọi là y sĩ trung cấp.

Sự hăng hái tòng quân của sinh viên y khoa cũng được Bác Hồ biết đến. Ngày 6 tháng 5 năm 1949, Người đã gửi thư cho sinh viên trường ta.

Ngày 6/5/1949
Gửi sinh viên Trường Y Khoa Đại Học.
( Nhờ ông Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục chuyển ).

Các cháu yêu quý,

Tôi được báo cáo các cháu xung phong tình nguyện tòng quân. Tôi rất lấy làm vui lòng.

Đó là vinh dự cho thanh niên Việt Nam, đặc biệt là cho thanh niên trí thức, nhất là cho sinh viên đại học.

Tinh thần ái quốc đó một phần cũng do ông Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục và ông Giám Đốc Trường Y Khoa Đại Học khéo dung đúc nên.

Tôi gửi lời thân ái khen các cháu.

Để nêu gương xung phong và để thoả mãn chí khí hăng hái của các cháu, tôi đặc biệt chuẩn các cháu vào bộ đội ngay.

Để các cháu được tòng quân và đồng thời khỏi gián đoạn sự học tậm, tôi đã nói với Bộ Quốc Phòng để các cháu công tác ở các Quân y viện. Đến ngày kháng chiến thành công các cháu trở lại trường, thời giờ tòng quân sẽ được tính như thời giờ học ở trường.

Mong các cháu thi đua lập công

Hôn các cháu,
HỒ CHÍ MINH.

Sau thời gian chuẩn bị, chiêu sinh, làm trường sở... trường Quân Y sỹ khai giảng vào 10-3-1949, tại Vĩnh Yên, có 55 học sinh; trường Dân Y sĩ cũng khai giảng vào thời gian này, tại Thanh Hoá.

Vị thế của bậc học trung cấp khi đó là rất cao vì hai trường này được thành lập theo sắc lệnh của Chủ tịch nước ngày 28-8-1948.
Phải nói rằng bộ khung giảng dạy của hai trường trên hầu hết là các thầy của trường đại học hoặc các bác sĩ mà trường đại học Y Dược công nhận từ 1945 trở đi. Các thầy trường Y là trụ cột (Đinh Văn Thắng, Đỗ Xuân Hợp, Hoàng Đình Cầu, Nguyễn Thế Khánh), còn các bác sĩ được công nhận từ sau 1945 đến lúc đó đã đủ trình độ cũng như kinh nghiệm thực tiễn để làm thầy. Đây chính là lúc trường đại học Y-Dược phát huy vai trò “máy cái” của nó, như đã được dự kiến từ rất lâu. Nhờ vậy, nay đất nước có thêm hai cỗ “máy cái” nhỏ hơn. Nhiều y sỹ trung cấp do hai trường này đào tạo ra sau này đã tham gia đào tạo y tá, hộ sĩ...
Trường Quân Y sỹ đóng ở Vĩnh Yên do thầy Đinh Văn Thắng làm hiệu trưởng, thầy Đỗ Xuân Hợp làm giảng viên, với sự phụ tá của các bác sĩ Đặng Đình Huấn, Phạm Gia Triệu, Nguyễn Xuân Bích (công nhận sau 1945). Còn trường Dân Y sĩ đóng ở Thanh Hoá do thầy Hoàng Đình Cầu làm hiệu trưởng, quy tụ được các thầy lão thành như Nguyễn Xuân Nguyên, Đặng Vũ Hỷ. Trần Hữu Tước và một số thầy khác...

KHOA DƯỢC: CŨNG CHUYỂN ĐỊA ĐIỂM, ĐÓN THẦY TRƯƠNG CÔNG QUYỀN VỀ DẠY

Trong lúc khoa Y chuyển trường về Xuôi (Trung Giáp) gặp những khó khăn do Pháp tấn công lên Phú Thọ, thì khoa Dược bỏ làng Hanh (huyện Phú Bình) di chuyển lên ngược: xã Bằng Ninh (huyện Chợ Mới, Bắc Cạn), do vậy được yên ổn và còn gặp nhiều thuận lợi cho tới ngày kháng chiến thành công.

Có hai nguyên nhân khiến phải di chuyển địa điểm

1) Làng Hanh tương đối gần vùng địch nên luôn luôn phải sẵn sàng đối phó, do vậy khó ổn định. Thái Nguyên, cũng như Phú Thọ, luôn luôn là nơi địch đặt chân tới đầu tiên mỗi khi chúng tấn công Việt Bắc. Đã vậy, các thầy bên khoa Dược đều là giảng viên kiêm nhiệm, cơ quan chủ quản lại ở rất xa, mỗi lần đến giảng dạy việc đi lại không dễ và không thể lưu lại lâu.

2) Địa điểm mới ở Bắc Cạn, phía trên làng Hanh hàng trăm kilomet, không những an toàn, lại không xa các Viện (bào chế, kiểm nghiệm) và tổng kho dược (cấp trung ương), do vậy rất thuận lợi cho sinh viên thực hành và cho các thầy tới trường dạy.

Tuy nhiên, điều rút ra là không thể có một trường mà đội ngũ thầy toàn là kiêm nhiệm. Cần một thầy, và phải là thầy đủ uy tín, “cắm” hẳn ở trường, dành tất cả công sức cho sự nghiệp đào tạo mà mình theo đuổi cả đời. Chính sinh viên Dược đã phát hiện thầy Trương Công Quyền thích hợp với vai trò này và đề xuất với cục Quân Y để hiệu doàn đảm nhiệm việc mời rước thầy.

Tháng 11 năm 1949, sinh viên Lê Văn Thuần, đang ở liên khu X, tới Đoan Hùng gặp thầy dưới danh nghĩa cá nhân tìm học. Được thầy giảng cho, được cùng đi săn với thầy, sinh viên Thuần đã đặt rõ vấn đề và được thầy chấp nhận. Về thủ tục, phải đưa thầy sang Chiêm Hoá gặp thầy Hồ Đắc Di và bộ trưởng Giáo Dục để cơ quan chủ quản chính thức nhận nhân sự, phân công và bàn cách làm việc. Hai sinh viên Lê Văn Thuần và Nguyễn Dương Huy đã “hộ vệ” thầy trong chuyến đi này.

Trong hội nghị, mọi người đều nhất trí phải gắn Y và Dược trong đào tạo, việc cấp bằng phải là quyền hạn của trường (chứ không phải của cục Quân Y). Thầy Di muốn thầy Quyền sang Chiêm Hoá (và nói: sẽ đề nghị bác sĩ Tùng nhường nhà cho). Cuối cùng, không thể “bệ” cả khối đào tạo Dược với con người, nhà cửa, cơ sở thực tập... đi 200 km trong hoàn cảnh kháng chiến, hơn nữa sinh viên Dược đang nhận nhiều trọng trách ở Cục Quân Y, không dễ dàng hàng năm tập trung 6 tháng ở Chiêm Hoá; hội nghị đã chấp nhận nguyên trạng, thầy Quyền sẽ làm việc ở Bắc Cạn. Từ đó trong danh sách thầy của trường, thầy Quyền lại trở về đúng vị trí xưa kia sau 4 năm vắng bóng.

Đón thầy và gia đình thầy (bà vợ, cô cháu gái Chung, cậu con trai Đô) sang Bắc Cạn là công của các sinh viên Lê văn Thuần, Vũ Ngọc Lộ, Lê Ngọc Bích, Đỗ Minh. Chuyến đi gian nan vất vả, toàn đi bộ, hàng trăm kilomet, đường bị phá hoại rất khó đi, nhưng tất cả đều vui. Làm nhà cho thầy ở Bằng Ninh là sinh viên khoá 1947. Đây là khoá rất gắn bó với thầy Quyền, từng được xem album gia đình của thầy và được chiêu đãi nhiều loại chè do gia đình nấu.
Có giai doạn, khoa Dược (hồi ấy gọi là “ban”) được coi là trường, như trường Y. Xét ra, “trường” Dược có tổ chức riêng, do cục Quân Y quản lý, có địa điểm, cơ sở, kinh phí và con dấu đều riêng. Vậy nó có thể là đơn vị độc lập. Trong biên bản cuộc họp về “hợp nhất mọi trường Y Dược - trung cấp cũng như đại học - thì đại học Y và Dược là hai trường riêng. Tuy vậy, đến lúc thi tốt nghiệp và cấp bằng dược sĩ thì chỉ chữ ký “cụ Di”mới có giá trị. Lúc này, trường Dược lại là một khoa/ban của đại học Y-Dược.

Có thầy Quyền làm chủ tịch hội đồng, các kỳ thi hết môn, thi lên lớp của sinh viên dược trở thành hợp lệ; kể cả thi tốt nghiệp. Từ đó các kỳ thi tốt nghiệp của các khoá được tổ chức phần thực hành và thực tiễn ở Bắc Cạn (có thể có sự tham gia của các thầy bên khoa Y), ngay sau đó sinh viên dược kéo nhau sang Chiêm Hoá để thi lý thuyết, với chủ tịch hội đồng là giáo sư Hồ đắc Di, uỷ viên là giáo sư Trương Công Quyền và các thầy khác.

Khoá 1947 (đông nhất) sau khi thi tốt nghiệp ở Chiêm Hoá đã khao nhau và khao cả các nhân viên Viện nghiên cứu ở ngay phố Quẵng. Bánh cuốn bà Phán Tảo, phở chú Tám và quán cơm bình dân của ông Cai Lãng lại có dịp đắt hàng.

Kết quả đào tạo dược sĩ như sau :
- Khoá 1 (ngày thi: tháng 5/1950) : 6
- Khoá 2 (ngày thi: 1/8/1951): 6
- Khoá 3 (ngày thi: 15/5/1952): 9
- Khoá 4 (ngày thi: 15/1/1953): 11

Tổng cộng: 32 dược sĩ

Có thể coi Bằng Ninh là làng ải (Chiêm Hoá) đối với khoa Dược với linh hồn là thầy Quyền.

TRỞ LẠI CHIÊM HOÁ. KHAI GIẢNG NĂM HỌC 1949-50; 50-51 VÀ 52-53

Trường từ Trung Giáp trở lại Chiêm Hoá và ở đây cho đến khi chiến thắng Điện biên Phủ, Pháp phải ký hiệp định Giơ-ne-vơ lập lại hoà bình.

Số sinh viên các khoá có mặt tại trường khi khai giảng năm học 1949-50 (tháng 11) gồm 63 người.

- Lớp mới vào, tức Y1, là 20 sinh viên

- Năm thứ hai: 18 sinh viên,
- Năm thứ ba: 18 sinh viên,
- Các năm thứ tư, năm và sáu: chỉ có 7 sinh viên về được.

Ngoài ra nếu gộp cả 60 sinh viên ba năm cuối không có mặt (vì đang được điều động đi tập sự tại các trạm quân y và dân y), thì cả thảy số người “có tên” là 123 người.

Trong năm học này, sinh viên các lớp từ Y5 trở lên là số còn lại của trường Đông Dương. Số sinh viên ghi tên theo học từ năm học 1945-1946 nay mới tới năm thứ tư (Y4) và khoá sau đó nay mới là Y3. Theo quy định (do gợi ý của Bác Hồ hồi đó), cứ một năm phục vụ trong quân y được tính là một năm học ở trường (để không ai bị chậm); nhưng để đảm bảo thực chất học tập, sau này sinh viên vẫn phải về trường ôn tập, bồi dưỡng để sát hạch lên lớp.

Sinh viên Y1 và Y2 năm học này lần đầu tiên biết Chiêm Hoá, dù trước đây nhiều người đã nghe tên; và khi kháng chiến đã trải qua 3 năm thì hầu như chẳng còn ai có xe đạp để đi nữa - hơn nữa đường xá bị phá hoại tới mức đi bộ đỡ khổ hơn đi xe đạp. Đa số họ đi từ trường Trung học kháng chiến Chu Văn An (lúc ấy đóng ở Đào Giã, Phú Thọ), đôi chân mang dép lốp (làm bằng lốp ô tô cắt ra) chỉ cần vượt 120 km là tới nơi. Một số khác đi từ khu IV bằng con đường duy nhất là qua Hoà Bình, với dốc Cun nổi tiếng nguy hiểm (nhiều cọp, đã quen ăn thịt người và máy bay Pháp bắn phá để cắt con đường liên lạc từ khu IV với trung ương), quả có vất vả hơn nhiều. Từ khu III, có thể “đi thẳng” (khá nguy hiểm vì phải tránh nhiều đồn địch) hay đi đường vòng (qua Hoà Bình) để lên Phú Thọ, Tuyên Quang.

(Trần Quang Anh, Trương Quý Bình, Lê Quang Cát, Lê Hải Chi, Nguyễn Chí, Cao Đình Cự, Trịnh Bỉnh Dy, Vũ Đình Hải, Vũ Duy Hàn, Lê Vĩ Hùng, Nguyễn Văn Hướng, Nguyễn Đình Hường, Đặng Đức Hựu, Nguyễn Huy, Phan Kiểm, Phạm Văn Long, Hoàng Thuỷ Nguyên, Phan Sỹ Nhân, Nguyễn Văn Phan, Đỗ Trần Thận, Nguyễn Văn Thọ, Nguyễn Công Thuỵ, Đặng Đức Trạch, Hà Văn Trạch, Bạch Quốc Tuyên, Bùi Xuân Vĩnh, Nguyễn Thị Minh Vượng... ).

Sinh viên bảo nhau “mọi con đường đều dẫn tới Chiêm Hoá. Sinh viên Trương Quý Bình do về thăm gia đình, xin “lương khô”, lại đi bộ từ khu III ra, nên vào trường chậm cả tháng vẫn được nhận vào học. Cố nhiên anh đã gắng để đuổi kịp bạn bè trong lớp.
Sinh viên nữ duy nhất Nguyễn Thị Minh Vượng nhớ lại: học trung học ở Phú Thọ, nên lên Chiêm Hoá không xa lắm, có các bạn cùng lớp là Nguyễn Huy và Phan Kiểm đi “hộ vệ”, do vậy dọc đường an toàn. Đến nơi, được các anh Nguyễn Đăng Tường và Nguyễn Đình Quang (lớp trên, hiệu đoàn, phụ giảng) đón tiếp và hướng dẫn về ăn ở, sinh hoạt. Nam thì có lán để ở, chỉ có một nữ nên được gửi vào nhà dân. Cơm đạm bạc (muối vừng, canh rau, canh sắn) nhưng đủ 3 bữa và đủ no. Dầu đèn và xà phòng được phát. Sau khi cụ Di khai giảng 20 phút là thầy Chánh “phủ đầu” ngay bằng bài Giải Phẫu (xương); còn cụ Di và “anh” Tùng thì giảng cho các lớp cao hơn.

Chương trình học của khoá này không khác so với các khoá trước, duy có điều các thầy đã rút kinh nghiệm để sinh viên được học phần cốt lõi nhất, sát thực tiễn nhất. Vẫn giảng bằng tiếng Pháp. Vẫn có “quân y đại học” tổ chức thành một trung đội (gồm những người tự nguyện sẽ tòng quân, do sinh viên Phạm Thế phụ trách); nhưng cấp bậc của mỗi đội viên đã là trung đội trưởng hay đại đội phó (nay là chuẩn uý). Đến 1-5-1950 thì chẳng còn phân biệt “quân y” với “không quân y” nữa: tất cả đều gia nhập quân đội (theo sắc lệnh động viên của Chủ Tịch nước). Tất cả rời trường lên đường ra tiền tuyến. Các lớp trên đã quen với nhiệm vụ, còn lớp 1949 mới được học có gần 6 tháng, nên rất lo lắng; nhưng may, họ không còn phải công tác độc lập như các đàn anh “ngày xưa” nữa. Họ cũng trưởng thành rất nhanh. Một nữ duy nhất của khoá này không đủ tiêu chuẩn nhập ngũ nên vẫn ở lại trường, được nhà trường phân công phụ giúp giáo sư Ngữ trong công trình về penicillin.

Lúc này giáo sư Đặng Văn Ngữ đã từ khu IV ra Chiêm Hoá, đang lo lập Viện Nghiên Cứu và bắt đầu tạo cơ sở vật chất sản xuất “nước lọc penicillin”. Thầy có 3 trợ thủ đi cùng thầy từ khu IV ra (Nguyễn Thị Ngọc Toản, Võ Văn Hạp, Nguyễn Quyên), nay thêm Minh Vượng, chưa kể một số nhân viên kỹ thuật, trong đó có bà Lưu (em vợ thầy). Chị Minh Vượng một mặt học thêm Bệnh học Nội và Bệnh học Ngoại (qua sách Pháp), đồng thời phụ giúp thầy Ngữ cho đến cuối năm 1951 thì được phân công về phân viện 9, được các vị lãnh đạo ở đấy (BS Vũ Hữu Hiếu) sử dụng đúng “tay nghề”: cho trở về trường xin “chủng” để về sản xuất tại chỗ nước lọc penicillin đắp lên vết thương của thương binh đang điều trị ở phân viện này.

Khoá vào trường 1950 có thể nói là đông nhất cho đến năm đó, nhưng không quá đông để đến nỗi sau 6 tháng chưa quen hết bạn bè trong lớp. Đa số học trung học ở Phú Thọ, đến trường không vất vả lắm; một số từ khu 3, khu 4 ra thì khá gian nan (Quang Long, Mạnh Liên, Lưu Văn Thắng...).

Đặc biệt vất vả mọi mặt là sinh viên Lưu Văn Thắng: anh đã học (dở dang) lớp y sỹ xã hội ở Sài Gòn từ hồi Pháp thuộc, đến 1949 đang làm y sĩ viện K43 (Quảng Trị) thì được Uỷ ban tỉnh và quân đội cho ra trường trung học Huỳnh Thúc Kháng để học và thi tú tài. Do vậy anh thuộc loại nhiều tuổi của lóp. Đường ra khu IV hết sức gian nan, trải 21 ngày qua những địa danh ở biên giới Lào Việt nghe đã rợn người. Sau đó, có bằng tú tài, lại từ khu IV ra Việt Bắc với bao gạo, ống tre đựng thc ăn mặn, ba lô đơn sơ vài bộ quần áo nhưng cuốn từ điển tiếng Anh cố đem theo thì quá nặng... Khi đến Tuyên Quang thì được tin trường đã chuyển đi Vô Tranh, lại sang Vô Tranh... Cũng lần đầu làm thuê dọc đường được ít tiền, sinh viên Thắng dám ăn phở và anh phải công nhận “phở Bắc” là ngon.

Về học tập, họ cũng chỉ được học 6 tháng trong năm học đầu, rồi ra trận. Về đóng góp cho kháng chiến, họ vào trường không quá muộn nên tất cả đều có cơ hội mặc áo lính, phục vụ cứu chữa thương binh ở nhiều chiến dịch. Do đông ngưòi, họ có nhiều sinh hoạt nội bộ sôi nổi, đa dạng, qua đó nhiều kỷ niệm và rất gắn bó với nhau. Sinh viên Đỗ Dung Dịch đã xung phong đi chiến dịch thay cho bạn đang bấn bíu việc gia đình. Và cũng vì đông người họ phải tự dựng lấy nhà (vừa để ở, vừa để học), được họ gọi là “nhà đình”. Khoá này có người chết do ốm đau, có người hy sinh khi đang làm nhiệm vụ. Không những đối với thầy, khoá này cũng đối xử rất đúng mức với các anh khoá trước đã hướng dẫn chuyên môn cho họ (kính trọng, thân yêu, thể hiện trong các bản hồi ký cung cấp cho trường sau này).

Khoá có một số đặc điểm. Trong gần 40 người, có tới 3 nữ là điều rất hiếm (được cả lớp quý mến nhưng rất hay bị trêu chọc); trong lớp nhiều nhân vật có tài lẻ và cá tính: nữ sinh viên Bình hát hay và hay hát, Đoàn Bá Thả rất có tâm hồn thơ, Nguyễn Quý Tảo dí dỏm, nhìn sự vật nào cũng phát hiện ra cái đáng cười, Nguyễn Trọng Khiết khá tinh nghịch... Chính hai người này rất sớm nhận ra ra sự “nghiêm chỉnh” giả tạo, sự “lên gân” đến tức cười của đợt chỉnh huấn do sự du nhập vào nước ta những lý thuyết xa lạ, trái với truyền thống dân tộc. Họ cũng nhớ mãi hình ảnh anh Nguyễn Hữu Mô (khoá1945) đứng tập nói và tập điệu bộ sư phạm khi chuẩn bị bài phụ đạo cho lớp họ. Họ bảo nhau mua tặng thầy Chánh quần áo vì gia đình thầy Chánh đông con, có nhiều khó khăn.

Sau khi học ở Chiêm Hoá, họ chuyển sang Vô Tranh (nơi có phân viện 5 và trường Quân y sĩ) để bổ túc thêm về Ngoại khoa chấn thương rồi đi phục vụ chiến dịch Hoàng Hoa Thám (đường 18) với vốn liếng thu nhận trong 6 tháng ở trường, với sự chỉ bảo của các đàn anh và sự nỗ lực bản thân. Vậy mà tất cả đều trôi chảy, kể cả Lưu Văn Thắng vào trường rất muộn. Có người, trong chiến dịch, còn được tin cậy đảm nhiệm cả một phòng điều trị.

Năm 1951 không tuyển sinh. Sinh viên Đỗ Châu bị lỡ học khoá trước (1950), đã phải nhập vào khoá sau nữa (1952).

Khoá 1952 dự tuyển 100 sinh viên, cuối cùng chỉ có gần 80 người ghi tên. Sau ít lâu, một số được lấy đi học Liên Xô, khoá chỉ còn 72. Cả lớp đã không ngờ số này đi “du học” tới 11 năm (đến 1953-64) mới về nước.

Hồi đó rất không sẵn học sinh tốt nghiệp trung học (không thừa ứ như bây giờ). Ngành sư phạm thu hút một số không nhỏ, tới 3/4 (tự xin, hoặc được bộ Giáo Dục điều động): hoặc ra dạy ngay cấp II, hoặc đưa sang Nam Ninh (Trung Quốc) đào tạo 2 năm thành thầy dạy cấp III. Sinh viên Đinh Lương nộp đơn xin vào học trường y sĩ ở Thanh Hoá, trường này phát hiện đây là đơn củ một vị tú tài, không dám nhận, lập tức chuyển hồ sơ ra Chiêm Hoá.

Đây là khoá đông nhất trong kháng chiến, có 4 nữ (Ngọc Toản, Mẫu Đơn, Quỳnh Giao và Hà Thị Tư). Do không có khoá 1951 nên khoá 1952 khai giảng rất sớm vào tháng 5-1952 (thông thường thì tháng 10, 11), và được học “một mạch” đến tháng 9-1953 (gần 1,5 năm, tương đương 2 niên khoá) thì đi công tác. Hiệu đoàn, do sinh viên tập trung rất đông nên đã hoạt động sôi nổi và nề nếp hơn; lớp chia thành các phân đoàn. Có một chi bộ của lớp, đứng đầu là sinh viên Hà Huy Tiến; và một liên chi của trường (bí thư Phạm Thuý Liên) lúc này đã hoạt động công khai.

Sau 6 năm kháng chiến, tình hình chung đã khả quan hơn; có người đến trường bằng xe đạp; có người đi học đang mang thai (sinh con ngay tại trường, và khi đi công tác khu 4 thì mua xe đạp nhờ 2 bạn nam thay nhau đèo đi). Lớp trưởng: Nguyễn năng An, phụ trách thi đua: Phạm Song. Ngoài 5 thầy, lớp này được các sinh viên lớp trên phụ đạo là Đinh Văn Chí, Đỗ Quang, Trần Quang Vỹ. Chế độ ăn 18 kg gạo và 5 kg để mua thức ăn và nhu yếu phẩm; sinh viên do ở lâu trong trường nên có điều kiện trồng rau và chăn nuôi cải thiện. Do số lượng đông, nên chuyện cơm để trong rổ rá, canh để trong máng tre lại càng là điều đương nhiên. Một nguồn cải thiện là thịt chó, thịt dê sau thí nghiệm, thực tập (đôi khi còn sặc mùi chloroforme hay ether). Đo đông, nên khoá 1952 gặp một số khó khăn trong thực tập ở bệnh viện. Khi thầy mổ, thì các anh lớp trên là phụ 1, khoá 52 may mắn lắm mới được làm phụ 3.

Năm 1953, ta học và làm theo kiểu cải cách ruộng đất ở Trung Quốc. Các lớp chỉnh huấn được tổ chức rộng khắp và khá căng thẳng. Nhiều người cho biết đã thu nhận được những hiểu biết mới như về đường lối giai cấp của Đảng, về sự ảnh hưởng sâu sắc của thành phần giai cấp đối với con người, về tính chất bấp bênh, lãng mạn, cầu an, tự do chủ nghĩa của giai cấp tiểu tư sản… Chính sách đại đoàn kết mà Bác Hồ đề ra hồi đầu cách mạng nay phải hiểu là đoàn kết có nguyên tắc, có chọn lọc, có tính giai cấp. Tuy vậy với vốn liếng học thức, họ đã nhận thấy có những việc đã xảy ra quá mức cần thiết.

Theo sự nhớ lại của sinh viên Đỗ Quang, nhiều học sinh quân y sĩ đã đóng kịch với bộ mặt thiểu não, thậm chí khóc lóc, đau khổ để biểu lộ thấm thía sai lầm của bản thân về lập trường giai cấp hoặc vẻ mặt hằm hằm khi biểu lộ căm thù đế quốc, phong kiến. Khoá 1952 có người phải học tới 2 đợt, vì gia dình “vướng thành phần” mà bản thân lại là đảng viên (theo nhớ lại của sinh viên Ngọc Toản). Những năm sau, khi có sự thừa nhận sai lầm tả khuynh trong cải cách ruộng đất, số sinh viên mấy khoá này đã nói đủ chuyện hài hước về cái thời ấu trĩ đó …

Tháng 9-1953, bác sĩ Phạm gia Lăng ở Cục Quân Y tới trường lấy khoảng một nửa khoá 1952 vào quân đội (có 3 nữ); sẽ phục vụ trực tiếp hay gián tiếp chiến dịch Điện Biên Phủ. Được phân công hợp năng lực và được các anh lớp trên hướng dẫn, họ đã có những đóng góp đáng kể. Số còn lại vào Dân Y và đi phục vụ cải cách ruộng đất.

Khoá 1952 chỉ trở về trường khi đã tiếp quản Hà Nội. Thi tốt nghiệp không phải nộp luận án, nói chung không ai bị tốt nghiệp muộn như các khoá đàn anh.

Năm học 1953 - 1954 không tuyển sinh, mà bắt đầu bằng việc sinh viên tập trung để đi phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ.

VIỆC THẦY NGỮ VỀ TRƯỜNG. SẢN XUẤT NƯỚC LỌC PÉNICILLIN. LẬP VIỆN

Ngày 10.11.1949, phái viên Chính phủ ta tại Thái Lan điện về nước cho biết bác sĩ Đặng Văn Ngữ vừa từ Nhật về qua Thái Lan. Sang Nhật năm 1943, ông đã học tập và công tác tại nhiều cơ sở nghiên cứu về ký sinh trùng và nấm ở Tôkyô, và đã trải qua 2 năm làm việc tại một Viện nghiên cứu huyết thanh của quân đội chiếm đóng Mỹ tại Nhật. Khi về ông mang theo một số giống nấm sản xuất péniciline và stretomycine với hiệu suất cao do chính ông phân lập được, với mong muốn đóng góp cho cuộc kháng chiến. Hành trình qua Lào về miền Trung khá gian nan nhưng giống nấm vẫn nguyên vẹn. Thoạt đầu ông tạm làm việc ở viện Vi Trùng Học Trung Bộ do cụ y sĩ Đông Dương Nguyễn Đức Khởi phụ trách, và được chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến Hành chính khu IV Lê Viết Lượng đề nghị ở lại để sản xuất penicillin. Ông đã làm dự trù và lên kế hoạch, nhưng sau ông nghĩ rằng việc lâu dài của ông không phải là trở thành nhà sản xuất kháng sinh, mà là nhà nghiên cứu y học; nhưng ở khu IV thì không thể đủ điều kiện. Ông phân vân, định rằng sau khi sản xuất được penicillin ở khu IV sẽ bàn giao lại quy trình và sẽ xin trở về trường đại học là cơ quan cũ của ông. Chính phủ, Bộ Y tế và trường Y Dược khi biết tin ông đã về đến miền Trung, lập tức điện vào hỏi tình hình và yêu cầu ông ra miền Bắc công tác. Số lần trao đổi bằng công điện và công văn giữa trung ương với khu IV lên tới gần hai chục. Cuối cùng, đến tháng 1 năm 1950, cụ y sĩ Đông dương Nguyễn Kính Chi, giám đốc Sở y tế khu 4 giới thiệu ông ra.

Trung ương theo nguyện vọng của ông, là được trở lại trường Đại học Y khoa. Thật là một tin mừng cho nhà trường, vào lúc rất thiếu cán bộ giảng dạy, nhất là thiếu người lập phòng thí nghiệm để trường Y Dược xứng với danh hiệu đại học. Việc đón gia đình ở Huế (gồm bà vợ và hai con), chuẩn bị hành trang - nhất là giống nấm và các phương tiện tối thiểu khác - tốn nhiều tháng. Hành trình từ khu IV ra bắc khá gian nan, cho nên tới đầu tháng 6 năm 1950 bác sĩ Ngữ và gia đình mới ra tới Chiêm Hoá. Và bắt tay ngay vào việc xây dựng một phòng thí nghiệm (còn gọi là Viện nghiên cứu) trực thuộc trường, kiêm giảng dạy môn Sinh học, Ký sinh trùng và Vi trùng.

Khi trở lại trường, Thầy Ngữ được gọi là giáo sư (như thầy Di và thầy Tùng) cả trong giao tiếp ngày thường, cũng như trong văn bản. Chứng cứ gián tiếp còn cho thấy khoảng 1953 tại trường Y Dược có cuộc họp và có văn bản đề xuất việc phong tặng chức danh giáo cho những thầy tham gia kháng chiến (các vị: Tôn Thất Tùng, Đỗ Xuân Hợp, Đặng Văn Ngữ,Nguyễn Xuân Nguyên, Trần Hữu Tước, Đặng Vũ Hỷ...) nhưng đến nay chưa tìm được tư liệu về cuộc họp và văn bản đề nghị. Cũng thời gian này, trường Y Dược trong Hà Nội tạm bị chiếm chính thức có 4 giáo sư người Việt.
Trong số những người cộng sự mà bác sĩ Ngữ đem từ khu IV ra có các tú tài Nguyễn Thị Ngọc Toản, Võ Văn Hạp, Nguyễn Quyên (sau này cả ba người đều học Y: khoá 1952). Bác sĩ Ngữ còn được bổ sung thêm một trợ thủ là sinh viên Nguyễn Thi Minh Vượng, khoá 1949. Cho dến cuối năm 1951 sinh viên Minh Vượng đựoc Cục quân y điều động tới thực tập và làm việc ở một phân viện (đóng ở Yên Kiện) và đã giúp phân viện này sản xuất nước lọc penicillin “tại chỗ” dùng cho thương binh đang điều trị ở đây.

Người cộng tác có công nhất của thầy Ngữ là sinh viên dược khoa Nguyễn Xuân Tiến (nay là giáo sư), vào trường 1947, khi đó vừa được lên năm thứ tư, được Cục Quân Y cử tới Chiêm Hoá.

Lên đường 30-9-1950, sau khi đã đọc kỹ mọi tài liệu có trong tay (kể cả bài nói chuyện của thầy Ngữ tháng 12-1949 ở khu IV), đoàn gồm 10 người, thuê thêm nhân công gánh theo mười mấy gánh dụng cụ, hoá chất, sách báo, tài liệu, đến ngòi Quẵng sau 5 ngày cuốc bộ. Ngoài một số nhân viên kỹ thuật, Thầy Ngữ chỉ có 4 phụ tá “thâm niên” mới 9 tháng, làm tiếp đến 1952 thì cả 4 chia tay vĩnh viễn với công trình. Cơ ngơi lại quá đơn sơ, thiếu thốn, khó mà nhanh chóng có sản phẩm như thầy Ngữ dự định, nhất là thầy chưa có kinh nghiệm làm việc với lề lối trong thời chiến ở Việt Nam. Sau hai tuần cặm cụi học thầy kỹ thuật, sinh viên Tiến đã làm một đề án để Cục Quân Y phê duyệt, cấp tiền và phương tiện. Đề án cũng được thầy Ngữ báo cáo với Hồ Chủ Tịch, được bác Hồ cho hạn 3 tháng. Việc thiếu chai thuỷ tinh chuyên dụng được bác Hồ dự định giao cho ông Hoàng Quốc Việt giải quyết, nhưng sau các sinh viên Dược (Tiến, Thiệu, Sửu) đã khắc phục được. Sinh viên Nguyễn Hữu Thiệu (phó quản đốc xưởng dược XF1) đã có công lớn thúc đẩy việc duyệt đề án sớm nhất và cung cấp một số dược tá lâu năm. Tháng 1-1951 đề án được thông qua.
Thế là bắt tay vào việc. Không thể làm “nhỏ” như cũ, do vậy cần tới 1000 chai Roux để cấy nấm. Sinh viên Tiến đã “chạy” được suôn sẻ do quan hệ công tác và hiểu rõ nơi nào phải gặp gỡ liên hệ. Lẽ ra phải làm khuôn sắt để sản xuất chai, thì công nhân dưới sự quản lý của sinh viên Nguyễn Văn Sửu có sáng kiến thay bằng 2 viên gạch chịu lửa và làm cả trong ngày tết âm lịch, nên công việc không bị chậm trễ. Các chai Roux được phân phối về các phân xưởng Dược ở nhiều địa điểm, đồng thời 20 dược tá được cử sang học quy trình ở Chiêm Hoá để làm việc này. Sản phẩm được đưa đến dùng thử ở nhiều bệnh viện, trạm y tế do sinh viên Tiến liên hệ từ trước. Mặt khác, sinh viên Tiến còn tổ chức nhóm sản xuất lưu động phục vụ chiến dịch Trung Du sắp mở do anh Võ Văn Hạp dẫn đầu... Kết quả, sản phẩm được tất cả các nơi xác nhận công hiệu và hoan nghênh...

Qua việc điều trị thực nghiệm tại bệnh viện nhà trường, các phân viện I, II, III, phòng phân tích AH3..., do sinh viên Tiến trực tiếp liên hệ từ trước, nước lọc penicilline tỏ ra có tác dụng rất tốt đối với các vết thương nhất là các vết bỏng do bom na pan. Chế phẩm đã phục vụ tốt cho thương binh trong hầu hết các chiến dịch lớn: đầu tiên là chiến dịch Trần Hưng Đạo, sau đó là Hoàng Hoa Thám, Quang Trung, Lý Thường Kiệt và chiến dịch Hoà Bình...

Thầy Ngữ cũng bắt tay ngay vào việc thiết lập phòng thí nghiệm. Thoạt tiên phòng này làm một số xét nghiệm huyết học, hoá sinh và ký sinh giúp chẩn doán cho bệnh viện A của thầy Tùng; như vậy, bệnh viện có cả X quang lẫn xét nghiệm, xứng đáng với hai chữ “hiện đại” vào thời đó. Trong mấy năm số xét nghiệm đã làm lên tới 1246. Về nghiên cứu, đã thử dùng “nước lọc streptomycin” chữa các ổ viêm mạn tính (ví dụ, trường hợp viêm âm đạo do vi khuẩn đã cho kết quả tốt). Đáng chú ý là đã lấy trên 400 loại lá cây quanh vùng, tạo tinh chất, thử tác dụng kháng sinh của chúng. Kết quả: chỉ vài loại có tác dụng. Cũng thử phân lập nấm, cô đặc nấm nuôi cấy để làm giàu vitamin B12 (thuốc bổ), lấy một số lá cây và quả thử tác dụng chỉ thị màu...

Điều rủi ro đối với gia đình thầy Ngữ là khi thầy đi vắng, người vợ thân yêu của thầy qua đời, để lại cho thầy 2 con còn nhỏ. Thầy đã một mình nuôi dạy và chăm sóc cho đến khi thầy hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ. Một chi tiết cần nói: Khi về nước thầy Ngữ đã lường tới mọi khó khăn vật chất và sẵn sàng chịu đựng. Suốt 6 năm ở Nhật, chính quyền Pháp vẫn trả một phần lương cho gia đình, nay sắn sàng trả đủ nếu thầy về vùng tạm chiếm. Theo thầy khai với Uỷ ban Hành chính khu IV thì lương do Pháp trả là 800 đồng/tháng (số tiền này đủ nuôi sung túc 40 người, vẫn không hết); nay thầy chỉ cần được cung cấp đủ ăn cho mình và gia đình, cả thảy 4 người. Nhưng ngay đến điều đó cũng không thể thực hiện được trong kháng chiến (mọi khoản lĩnh của thầy khoảng 60 kg gạo), do vậy bà vợ đã rất vất vả gánh vác cái gia đình nhỏ này. Một chi tiết khác: Uỷ ban xã An Lạc (làng ải) đã chứng nhận cho thầy Di “có hai con nhỏ đang phải nuôi” để thầy làm hồ sơ xin phụ cấp do khó khăn (!).

CÁC THẦY CỦA TRƯỜNG Y DƯỢC Ở VÙNG KHÁNG CHIẾN

Việc học cho đến 1952 chủ yếu là thực hành ngoại khoa chiến thương. Với một số cán bộ rất ít ỏi, các môn lý thuyết đã đơn giản đi rất nhiều. Phần giảng dạy các môn cơ sở như Sinh lý, Giải phẫu, do bác sĩ Vưu Hữu Chánh phụ trách, giáo sư Nguỵ Như Kon-Tum giảng môn Hoá và Vật lý y học; về sau có giáo sư Đặng Văn Ngữ giảng môn Vi trùng, Ký sinh trùng và Vệ Sinh và bác sĩ Nguyên Dương Quang phụ giáo ngoại khoa. Nhưng thời gian chủ yếu là dành cho giáo sư Hồ Đắc Di và bác sĩ Tôn Thất Tùng giảng bệnh học lâm sàng ; cụ Di còn kiêm giảng môn sản phụ.

Đến đây, có thể nảy sinh câu hỏi: tại sao trường chỉ tập trung đào tạo về ngoại khoa mà không điều động các thầy khác ở liên khu III, IV, như Trần Hữu Tước, Đặng Vũ Hỷ, Nguyễn Xuân Nguyên, Đinh Văn Thắng v.v... lên để tổ chức một trường hoàn chỉnh với các chuyên khoa như Tai-mũi-họng, Da liễu, Mắt, Sản-Phụ khoa...? Có thể có những câu trả lời khác nhau. Và ít nhiều đều có phần đúng. Hoặc do hình thái chiến trường lúc đó không cho phép tổ chức trường với quy mô lớn, hoặc do nhu cầu thầy thuốc ngoại khoa của quân đội nên chỉ tập trung làm ngoại khoa với uy tín chuyên môn rất lớn của các giáo sư Hồ Đắc Di và Tôn Thất Tùng; hoặc còn do nhu cầu nội khoa cho các vùng đông dân cư ở đồng bằng khu 3, khu 4 nên không thể điều động các bác sĩ giỏi nội khoa lên một vùng rừng núi thưa dân như Chiêm Hoá; hoặc do số thời gian học quá ít ỏi, không thể tham lam đưa vào chương trình quá nhiều môn, mà phải “cần gì, học nấy”. Theo mấy chục bản hồi ký của cựu sinh viên thời đó, ai may mắn nhất thì được về trường khoảng 2, hay 2,5 năm (chia ra nhiều đợt). Cuối cùng, nếu tham khảo thêm các chức vụ mà các thầy đảm nhiệm lúc đó thì còn một nguyên nhân nữa: các thầy không thể bỏ nhiệm sở tại địa phương để tập trung lên Chiêm Hoá hay Trung Giáp. Ví dụ, thầy Nguyên đang là giám đốc y tế (cả dân y và quân y) của chiến khu III; thầy Thắng đang là giám đốc y tế chiến khu X, kiêm bệnh viện trưởng một bệnh viện dân y, sau đó còn kiêm hiệu trưởng trường quân y sĩ trung cấp. Thầy Hợp đang làm giám đốc bệnh viện ở Quế Trạo, sau kiêm thêm giảng viên trường quân y sĩ nói trên; thầy Hoàng Đình Cầu làm giám đốc trường Dân y sĩ ở Thanh Hoá...

Một thầy ít được nhắc đến là Đặng Vũ Hỷ. Đang khám bệnh tư ở Hà Nội, bác sĩ Hỷ là một trong những người được giáo sư Hồ Đắc Di mời giảng cho trường Y Dược năm 1945-46 và được “phong” ngay “quyền giáo sư”. Thầy Hỷ thuộc thế hệ những sinh viên học 4 năm ở trường Y-Dược Đông Dương, rồi sang Pháp 2 hay 3 năm để làm luận án và thi tốt nghiệp. ở Paris, thầy từng là nội trú các bệnh viện. Khác các vị tương tự mình, bác sĩ Hỷ không ở lại Hà Nội mà đưa cả gia đình ra với kháng chiến, trọn vẹn 8 năm.

Ai cũng biết, ngoài cơ sở thực tập là bệnh viện A của thầy Tùng, trường còn lấy các cơ sở quân y làm nơi thực tập cho sinh viên, nhưng rất ít người biết một trong các cơ sở đó là Quân y viện đóng ở Thư Điền, thuộc Ninh Bình (thành lập cuối 1945), do thầy Đặng Vũ Hỷ phụ trách. Chuyên khoa Da Liễu, thầy gặp nhiều khó khăn khi làm giám đốc một quân y viện, do vậy phải tự học rất nhiều để có hiểu biết về Ngoại khoa, Nội khoa; đến mức có thể dạy Nội khoa, Sinh lý cho trường y sĩ, kể cả sau đó đã viết giáo trình môn học này cho đại học Y ở Lang Quán. Ngày nay, nếu hỏi nhà Da Liễu Học nào của Việt Nam có hiểu biết cơ sở vững vàng, thì e rằng ít người biết, kể cả trong ngành của thầy.

Chúng ta tham khảo một đoạn hồi ký của giáo sư Phạm Khuê, viết về thầy Hỷ nguyên văn như dưới đây.

...Trở lại thời gian đầu kháng chiến ở Thư Điền. Tối nào hai anh em cũng thắp đèn dầu học đến tận khuya mặc dầu cả ngày đã làm việc đến mệt lừ. Sổ tay ghi chép chuyên môn của anh dày đặc vì những sách học đều là mượn, nên phải trả. Anh làm việc rất điều độ, thể dục rất đều, giờ nào việc nấy, tính tình lúc nào cũng điềm tĩnh cho dù ở hoàn cảnh rất khó khăn của cuộc kháng chiến. Khi có điều kiện thì thực hiện cái mà ngày nay ta gọi là thư giãn - mặc dầu bận rộn, khi ở địa phơng có ai đau ốm cần đến, anh đều chống gậy xách hòm cấp cứu đến ngay. Hình ảnh người thầy thuốc quần xanh công nhân chống gậy xách cái hòm “na ná như hòm thợ cạo” đi khắp hang cùng ngõ hẻm là rất quen thuộc với đồng bào địa phương. Một điều làm tôi cũng rất cảm phục là tuy ở lâu, làm chuyên môn là chủ yếu nhưng khi cần vẫn có khả năng tổ chức chỉ huy rất tốt. Khi giặc tấn công Việt Bắc vào năm 1947 (Sông Lô, đường số 4) thì chúng cũng tiến công luôn căn cứ Ninh Bình làm thành một gọng kìm rất hiểm. Quân y viện của chúng tôi bị đánh phá. Anh đã chỉ huy đâu ra đấy đơn vị sơ tán vào chân núi Dưỡng Khê đảm bảo an toàn cho tất cả thương binh, phương tiện dụng cụ, một cách rất bình tĩnh. Đứng ở một gò cao anh chỉ huy một cách gọn gàng, ra những mệnh lệnh chính xác và cụ thể. Tôi thoáng nghĩ: trí thức của ta như thế đó. Bẵng một dạo, tôi không gặp anh. Anh chuyển về Trường Y sĩ Nông Cống, rồi lên Việt Bắc tham gia giảng dạy ở Đại học Y ở Việt Bắc.

Điều cần nói thêm là tất cả các thầy dù không ở Chiêm Hoá thì vẫn cứ là “thầy”, nghĩa là vẫn giảng dậy. Sinh viên khi đi công tác qua, rẽ vài chục cây số vào thăm thầy với tư cách cá nhân, là xin “thụ giáo” luôn. Chưa nói sau này các thầy được mời giảng chính thức ở trường y sỹ Thanh Hoá, sinh viên vẫn tìm đến đó để học theo kiểu “tranh thủ”.

Thật ngạc nhiên, khi sinh viên Trần Quang Vỹ (vào trường 1945) viết trong hồi ký: năm 1946-47 đã làm được các thủ thuật: mổ đục nhân mắt, thiên đầu thống, lông quặm, cắt được amiđan... do học các thầy nói trên.

Bộ trưởng bộ Giáo Dục định mở một phân khoa đại học Y ở khu III và mời thầy Trần Hữu Tước phụ trách. Trong một thư viết tay cho phó thủ tướng, giáo sư Tùng cũng nói rõ tâm trạng của thầy Tước “đã có tuổi, chỉ muốn làm điều gì đó có ích cho đất nước”. Nhưng dự định của Bộ trưởng là bất khả thi vì không thể có kinh phí và không đủ nguồn tuyển sinh. Bộ trưởng đã viết một thư dài xin lỗi thầy Tước.

Bên khoa Dược cũng có một số thầy ra vùng kháng chiến. Chỉ xin nói 2 thầy tiêu biểu là Huỳnh Quang Đại và Trương Công Quyền. Cả hai lúc đầu đều là dược sĩ tư, được mời giảng với chức danh “quyền giáo sư”. Phụ cấp giảng dạy chẳng đáng là bao so với thu nhập bằng kinh doanh thuốc, nhưng việc được mời giảng đã làm thay đổi quan niệm sống của hai vị.

Khi tình hình ở Hà Nội bắt đầu căng thẳng, dược sĩ Đại liền đóng cửa hiệu thuốc ở phố Hai Bà Trưng, xin tòng quân. Ra kháng chiến, ngay từ đầu ông đã là một trong những cốt cán có công rất lớn xây dựng và phát triển ngành quân dược (là giám đốc Xưởng Bào chế và tiếp tế trung ương), đồng thời vẫn trích thời gian tham gia giảng dạy; do vậy tất cả dược sĩ đào tạo trong kháng chiến đều được học ông; và kể cả những dược sĩ đào tạo trong giai đoạn chống Mỹ (khi đó ông là hiệu trưởng trường đại học Dược ở Hà Nội - đã tách khỏi trường Y).

Khi mới ra vùng kháng chiến, vị tiến sĩ dược khoa Trương Công Quyền, do tính ít giao tiếp, đã “nằm trùm chăn” ở Đoan Hùng (Phú Thọ), lấy săn bắn làm vui. Sinh viên dược khoa đã tìm ra thầy, mời thầy về trường; lập tức thầy hăng hái tòng quân, trở thành linh hồn khoa Dược (thuộc đại học Y Dược). Có thể so sánh vai trò của thầy Quyền ở khoa Dược với vai trò thầy Di, thầy Tùng bên khoa Y.

SỰ LÃNH ĐẠO TRỰC TIẾP CỦA TRUNG ƯƠNG
VAI TRÒ CHI BỘ ĐẢNG VÀ CÁC ĐOÀN THỂ TRONG TRƯỜNG

Hồi kháng chiến, chủ tịch Hồ Chí Minh, nếu căn cứ vào các văn bản mà Người đã ký, thì Người kiêm luôn thủ tướng. Khi đó, ông Phạm Văn Đồng được bổ nhiệm phó thủ tướng, thực chất là nhân vật số 2 trong chính quyền cách mạng. Có thể nói, rất nhiều cuộc họp về trường Y Dược, ngoài bộ trưởng Giáo Dục, Y Tế, cục Quân Y (thay mặt bộ Quốc Phòng, có phó thủ tướng chủ trì, kể cả các cuộc họp về chương trình.

Không kể những lần họp chính phủ (thứ trưởng bộ Y Tế Tôn Thất Tùng cũng được mời dự), có sự trao đổi trực tiếp giưa các vị lãmh đạo cấp cao với đại diện trường Y Dược, thì số “thư tay” của giáo sư Tùng gửi trực tiếp phó thủ tướng đã tới hàng chục. Như vậy, sự chỉ đạo của trung ương là trực tiếp và chặt chẽ. Từ đó, suy ra vị thế và vai trò của trường.

Có thư viết cho phó thủ tướng, thầy Tùng chỉ phàn nàn chuyện thiếu thuốc gây mê, do vậy bệnh viện phải ngừng phẫu thuật - cũng được phó thủ tướng chỉ thị cho cục Quân Y đi kiếm bằng được. Một thư khác nói về máy phát điện bị hỏng, do vậy thiết bị hiện đại nhất là máy X quang của bệnh viện không vận hành được, cũng được phó thủ tướng chỉ thị cấp dưới sớm giải quyết. Lần khác, phó thủ tướng hỏi “cụ Di thật sự cần gì” (vì chính phủ không thể lo hết mọi nhu cầu thiết yếu cho vị giáo sư cao tuổi), thầy Tùng trả lời: cụ cần làm răng giả, nếu không sẽ không ăn được, đưa đến sức khoẻ suy yếu; trong khi chờ đợi, nên kiếm cho cụ Di hộp sữa đặc.

Những ngày đầu kháng chiến, chưa có cơ sở Đảng trong trường Đại học Y Dược khoa. Khi lên tới Chiêm Hoá, khoa Y có 2 y tá được kết nạp Đảng là Đỗ Thiên Thu (Thu B) và Phát. Cũng trong thời gian này có ông Nguyễn Văn Bát tức Hoài Nam, người xã Yên Thịnh - Chiêm Hoá, được đảng viên Phát giới thiệu vào công tác tại bệnh viện thực hành. Sinh viên Phạm Thuỵ Liên, sau khi đi Nam Tiến, được chuyển từ trường lục quân về học tại trường Đại học Y. Như vậy tổ đảng gồm 4 người (Thu, Phát, Bát, Liên) do sinh viên Phạm Thuỵ Liên làm tổ trưởng, sinh hoạt trực thuộc chi bộ huyện Chiêm Hoá. Năm 1948, do sự phát triển của cơ sở Đảng, chi bộ Y tế (trường Đại học Y dược khoa và bệnh viện thực hành) được thành lập vẫn do sinh viên Phạm Thuỵ Liên làm bí thư chi bộ, sinh hoạt trực thuộc huyện uỷ Chiêm Hoá. Đảng viên của chi bộ lúc này có thêm các đồng chí: Thu A, Long, Trà, Kính, Hoành. Cuối năm 1949, sinh viên Nguyễn Dương Quang, từ trung ương đoàn thanh niên về học và sinh hoạt cùng chi bộ. Sau chiến dịch biên giới năm 1950, chi bộ đã kết nạp thêm được 3 người (tên là Nghị, Sơn và Thìn). Tới 1952, khi Đảng Lao Động Việt Nam được thành lập và tổ chức Đại Hội (thực chất là đảng Cộng Sản ra hoạt động công khai) thì sau đó chi bộ ở trường Y mới hoạt động công khai.

Trong giai đoạn này, Trường với vị thế hết sức quan trọng trong cuộc kháng chiến nên đã được sự lãnh dạo trực tiếp của trung ương Đảng, thông qua sự quan tâm của chủ tịch Hồ Chí Minh, phó thủ tướng Phạm Văn Đồng và bộ trưởng Quốc phòng Võ Nguyên Giáp (đều trong bộ chính trị). Đôi khi tổng bí thư Trường Chinh có thư từ trao đổi với thầy Tùng (ví dụ, thư hoan nghênh bài viết của Thầy về những khó khăn y tế của địch; đồng thời đề nghị thầy Tùng viết tiếp và cho biết bài nào có thể đăng ở báo Sự Thật, bài nào không được đăng).
Những phương châm cơ bản mang tính chiến lược đã được chỉ đạo trực tiếp bởi các lãnh tụ và đã được giáo sư Hồ Đắc Di, giáo sư Tôn Thất Tùng, hai trụ cột của nhà trường lúc đó, thực hiện một cách sáng tạo. Thoạt nhìn tưởng như đơn giản: trường phải vượt mọi khó khăn để tồn tại và phát triển, đào tạo đủ bác sĩ và dược sĩ cho nhu cầu kháng chiến. Chỉ có vậy, vì lịch sử chỉ yêu cầu có vậy. Nhưng để thực hiện trong điều kiện lúc đó, quả là phi thường. Người trực tiếp tiếp nhận các chủ trương của trung ương là giáo sư Tôn Thất Tùng, mỗi khi ông đi dự họp hội đồng chính phủ ở cương vị thứ trưởng bộ Y Tế (hai tháng một lần), dịp đó ông còn được gặp riêng các nhà lãnh đạo cấp cao nhất.
Các nhà lãnh đạo cấp cao khi chủ trì hội nghị bàn về sự hoạt động trong thời gian sắp tới của trường Y Dược thường gặp gỡ riêng cụ Di và thầy Tùng. Lúc này vai trò chi bộ chưa thể hiện rõ do chi bộ hoạt động bí mật, ít người biết. Vì vậy, nhiều cuộc họp do phó thủ tướng hoặc 2 bộ trưởng chủ trì, mời đại biểu các hiệu đoàn của 4 trường, nhưng trong danh sách đại biểu không có đại diện chi bộ y khoa.
Tuy nhiên, chi bộ vẫn hoàn thành các nhiệm vụ cụ thể, gồm: giáo dục tư tưởng nội bộ, gương mẫu bản thân để động viên cán bộ và sinh viên tin tưởng vào thắng lợi của kháng chiến. Cụ thể hơn, không bỏ hàng ngũ kháng chiến để dinh tê vào Hà Nội tạm bị chiếm, khắc phục mọi gian khổ để ở lại chiến khu ; xung phong, quên mình đi phục vụ các chiến trường...

Tổ chức hiệu đoàn có vào đầu năm 1949, thoạt đầu do sinh viên Vưu Hữu Chánh tạm đảm đương (khi ông chưa thi ra bác sĩ), rồi sinh viên Trịnh Kim ảnh, Trần Trọng Hùng, Nguyễn Đăng Tường, Nguyễn Đình Quang, Đỗ Quang và nhiều sinh viên khác trong ban chấp hành. Do sinh viên quá phân tán (hầu như khắp miền Bắc và Trung) nên hiệu đoàn rất khó phát huy tác dụng. Thời gian quân đội quản lý sinh viên nhiều gấp 3 hay 6 lần thời gian sinh viên có mặt ở trường. Do nhiệm vụ, có người vừa vào ban chấp hành hiệu đoàn đã được điều ra mặt trận cho đến hết nhiệm kỳ, khiến sinh viên chưa kịp biết tên. Về sau, anh chị em có xu hướng cử những sinh viên phụ giáo vào ban chấp hành, nhờ vậy hiệu doàn đã đề đạt nhiều nguyện vọng lên hiệu trưởng, kể cả lên Bộ Giáo Dục, và sau này đại biểu hiệu đoàn đã được dự họp một số buổi mở rộng với nhà trường. Khi có các lớp sinh viên mới (bỡ ngỡ) ban chấp hành phân công đón tiếp, hướng dẫn những điều cần thiết. Hiệu đoàn đã in (đất sét) được một số báo nội bộ và một số bài viết về chuyên môn (nay còn lưu giữ được) để gửi cho các nhóm sinh viên ở các nơi, nhưng số lượng in ra không nhiều, không thể gửi khắp cho các nhóm.

In qua đất sét: viết chữ thật đậm lên giấy, áp giấy vào mặt đất sét (trước đó đã đem nhào nước cho mịn, cán ra cho phẳng), để mực bị hút vào dất; sau đó áp giấy in lên mặt đất sét: được khoảng 20 bản in, nhưng bản cuối phải căng mắt ra mà đọc. Nếu khéo tay, chữ đẹp, có thể viết trực tiếp lên mặt đất sét (phải viết chữ ngược) thì bản in sẽ rõ nét hơn. Để có bản in rõ, phải mua giấy và mực trong vùng tạm chiếm mà không thể dùng giấy mực sản xuất ở vùng kháng chiến. Số lượng in hạn chế, chỉ có thể gửi theo nhóm, nhưng không phải nhóm nào cũng nhận đủ các bản đã in ra.
Một hiệu đoàn trưởng năm 1953 rất năng nổ là Trần Trọng Hùng (vào trường 1945), đảng viên cộng sản, bị chết bom trên đường đi công tác (họp Đoàn Thanh Niên), được công nhận liệt sĩ.

Trong trường có tổ công đoàn. Đoàn viên phát triển trong 8 năm kháng chiến khá đông, nhưng vẫn không rộng khắp như ngày nay. Hầu hết đoàn viên chỉ là nhân viên thường, do vậy sự hoạt động chủ yếu là tương trợ nhau, giúp nhau lòng tin vào thắng lợi của cuộc kháng chiến, động viên nhau ở lại vùng tự do. Chưa bao giờ công đoàn dám đặt kế hoạch tuyên truyền, giác ngộ, để cụ Di, ông Tùng viết đơn xin gia nhập.

Khoa Dược bên Thái Nguyên thời kỳ này cũng có chi bộ, trong số đảng viên của chi bộ có người giữ cương vị cao về chính quyền, do vậy chi bộ có vai trò lãnh đạo rõ ràng. Về hiệu đoàn của khoa dược, do sinh viên cũng phân tán, nhưng số lượng không đông, lại được định kỳ gọi về trường bổ túc 6 tháng hoặc ngắn hạn, do vậy có điều kiện hoạt động tốt hơn. Báo nội bộ và tài liệu chuyên môn rất có tác dụng, được gửi khá rộng khắp và rất được hoan nghênh (số sinh viên ở xa trường chỉ khoảng 50). Lợi thế là sinh viên Nguyễn Văn Hợi và Bạch Quang Chiểu (trong ban chấp hành hiệu đoàn) lại phụ trách ban ấn loát của khoa Dược.

Bạch Quang Chiểu đã học xong chứng chỉ PCB từ thời Pháp thuộc, lẽ ra có thể xin học Y khoa từ 1944. Do chiến tranh, sinh viên này đã xin học Dược khoa (hơi muộn). Rất khéo tay và rất tích cực hoạt động hiệu đoàn. Chẳng may, bị sốt thương hàn, bị chẩn đoán nhầm là sốt rét; sau chết vì chẩy máu đường ruột do chế độ ăn không phù hợp với bệnh đang mắc. Anh em bạn bè rất thương tiếc.

Cũng chính hiệu đoàn đã đề xuất việc mời thầy Trương Công Quyền tham gia giảng dạy, trực tiếp cử người đến gặp, thuyết phục, tổ chức rước thầy (và toàn gia) từ Đoan Hùng sang Bắc Cạn, dựng nhà cho thầy. Ngày thầy tới trường được Cục Quân Y coi như ngày thầy Quyền nhập ngũ. Hiệu đoàn, cụ thể là sinh viên Nguyễn Hữu Thiệu, còn có vai trò lớn trong vận động một số sinh viên ở khu 3, khu 4 (đời sống vật chất dễ chịu hơn) lên Việt bắc nhập học và vào quân đội (mặc dù đời sống khó khăn hơn).

 

Ban lịch sử Đại học Y Hà Nội
10/1/2003


Network Center, Hanoi Medical University.
Copyright 2001 HMU. All rights reserved.