Chương IV
Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ (1965 - 1975)
 

Sau giai đoạn chấn chỉnh một số lệch lạc do ấu trĩ, tả khuynh, duy ý chí từ ngoài xã hội ảnh hưởng vào, trường đại học Y khoa dần dần ổn định và lớn mạnh để có thể đảm nhận những nhiệm vụ nặng nề của thời chiến.

Do không đàn áp được cuộc nổi dậy của dân chúng miền Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, Mỹ đánh phá bằng không quân ra miền Bắc để “ngăn chặn sự chi viện”. Sự đánh phá này mang tính “leo thang” - nghĩa là ngày càng ác liệt - để thăm dò dư luận quốc tế và phản ứng của đối phương. Đối phó lại, một trong những khẩu hiệu phổ biến hồi đó đề ra cho toàn dân miền Bắc là “Vừa chiến đấu, vừa sản xuất”. Trên báo chí cũng như trên áp phích, khắp nơi, người ta thấy hình ảnh nông dân đi bừa có súng trường trên vai, công nhân đứng cạnh máy với khẩu súng dựa bên. Tuy vậy, trong những năm miền Bắc bị máy bay Mỹ đánh phá, trường ta vẫn tiếp tục đào tạo ra những bác sĩ với số lượng cao hơn mọi thời kỳ trước đó góp phần đáp ứng cho sự nghiệp chống Mỹ cứu nước thống nhất tổ quốc.

Sáu nhiệm vụ chính của trường trong thời kỳ này, gồm:

1- Phải tổ chức sơ tán và phân tán toàn bộ để đảm bảo an toàn cho công tác giảng dạy, học tập, nghiên cứu, đồng thời sẵn sàng phục vụ cấp cứu phòng không; trước sự đánh phá rộng khắp và ác liệt của không quân Mỹ.

2- Phải mở rộng cả qui mô lẫn đối tượng đào tạo, để đáp ứng yêu cầu về số lượng cho ngành Y, cho nhu cầu miền Nam và cho quân đội.

3- Phải đào tạo sau đại học, dù Bộ Đại Học chưa có chủ trương; nhưng do ngành Y đã có sản phẩm đại học trước các ngành khác tới 15 năm nên đến nay số bác sĩ có thâm niên cao đã tích luỹ lại rất lớn, cần đào tạo tiếp để họ đảm nhiệm được những nhiệm vụ mới, cao hơn.

Đây cũng là việc làm đơn độc của riêng trường Y trong ngành đại học nói chung, giống như trước đây trường Y tiến hành sắp xếp đội ngũ thầy vào thang bậc. Suốt thời kỳ chống Mỹ, bộ Đại học chưa có chủ trương gì về đào tạo sau đại học ở trong nước (do đa số các trường trong ngành này chưa có yêu cầu, cũng như năng lực chưa cho phép; từ năm 1960 trở đi các trường trên mới có các khoá tốt nghiệp; do vậy, số cán bộ tốt nghiệp đại học ở các ngành khác chưa có đủ thâm niên đến mức đòi hỏi đào tạo sau đại học). Còn với ngành Y, từ thập niên 70 đào tạo sau đại học bắt đầu trở thành một yêu cầu bức xúc.
Sở dĩ trường Y phải làm, và làm được, nhiệm vụ đào tạo sau đại học thì một trong những nguyên nhân là do nó trực thuộc Bộ Y Tế, được Bộ yêu cầu làm và khuyến khích làm. Nguyên nhân khác, hồi đó ngành y có số giáo sư chiếm quá bán hay chính xác hơn là ba phần tư tổng số giáo sư của miền Bắc.
Các chức danh sau đại học được đặt ra khi đó của ngành Y là: Bác sĩ chuyên khoa cấp I, Bác sĩ chuyên khoa cấp II, sau đó có thêm Bác sĩ Nội trú và một số đối tượng thử nghiệm khác. Công lao thuộc về các thầy Nguyễn Trinh Cơ (khi đó là phó hiệu trưởng phụ trách đào tạo, rồi hiệu trưởng) và Hoàng Đình Cầu (vụ trưởng, rồi thứ trưởng phụ trách Đào tạo).

4- Phải làm nhiệm vụ trường trọng điểm.

Khi đó (1968) các “phân hiệu” Y địa phương đã được thành lập; trường Y Hà Nội có nhiệm vụ phải chi viện trong nhiều năm về giảng dạy, phải đào tạo thầy, kể cả phải san sẻ đội ngũ thầy cho các phân hiệu đó.

5- Phải hoàn chỉnh mục tiêu đào tạo.

Đến năm 1959, các nhận định được phát ngôn chính thức ở trường Y vẫn khẳng định chất lượng toàn diện của bác sĩ ra trường đang tăng lên. Chất lượng toàn diện phải gồm 3 tiêu chuẩn; trong đó tiêu chuẩn Chính trị-Tư tưởng đứng hàng đầu, kế đó mới đến tiêu chuẩn Chuyên môn và Sức khoẻ.

Nói như trên, có thể hiểu là những biện pháp đã thực thi những năm trước đó (như tăng giờ Chính Trị lên 12% và hơn nữa, chỉnh huấn dài ngày liên tiếp, lao động hàng tháng ở nông thôn và vùng mỏ...) đã bù đắp hoàn toàn - mà còn bù đắp vượt mức - những thiệt hại do xáo trộn học tập, cắt giảm chương trình...

Sự giảm sút về chất lượng chuyên môn đã được nhìn nhận và nhà trường khắc phục bằng cách đề ra những “yêu cầu tối thiểu” mà một bác sĩ ra trường công tác độc lập phải đáp ứng. Đó là tiền đề cho ngày nay ta gọi là “mục tiêu đào tạo”, mặc dù lúc ấy trường Y cũng như toàn ngành đại học chưa ai có khái niệm gì về nó cả. Trong quá trình thực hiện các “yêu cầu đào tạo”, trường có bổ sung, tu sửa, nên đến 1962 thì chính thức hình thành “mục tiêu đào tạo”, tên gọi mà nay được dùng phổ biến.

Việc làm của trường Y là tự phát và đơn độc - do những bức xúc của chính trường này. Năm 1966, đại hội đảng bộ trường Y lần thứ 10 chính thức xác định các mục tiêu cụ thể trong đào tạo bác sĩ (gồm Chính trị-Tư tưởng, Chuyên môn và Sức khoẻ) mà tác giả thật sự là thầy Nguyễn Trinh Cơ và ông Phan Huy Chữ. Nay xem lại, nội dung thì cả 3 phần của mục tiêu đều quá cao và còn trừu tượng hoặc chung chung. Tuy nhiên, có nhiều nội dung và ý tưởng vẫn còn được giữ lại tới bây giờ.

Sơ tán và phân tán trường
Tổ chức sơ tán

Từ 5.8.1964, khi không quân Mỹ lần đầu tiên đánh ra vùng Hồng Gai, Quảng Ninh, rồi sau đó là Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hóa, chiến tranh thật sự bắt đầu lan toả trên khắp miền Bắc. Trung ương có chủ trương sơ tán các trường đại học và chuyên nghiệp.

Đó là việc trường di chuyển người, phương tiện, tài sản... khỏi nơi đông dân, đô thị, nơi có các trung tâm sản xuất công nghiệp, khu quân sự, đường giao thẳng, cầu, bến... (là những mục tiêu đánh phá của không quân Mỹ) tới những nơi có thể nguỵ trang để tránh bị phát hiện, sống và làm việc phân tán để tránh thiệt hại nếu lỡ bị máy bay Mỹ tìm ra và oanh tạc. Phải thấy khả năng trinh sát của không quân Mỹ không thấp kém. Kiếm được một địa điểm thoả mãn các điều kiện như vậy cho vài ngàn con người không dễ. Nơi sơ tán còn phải có một số điều kiện tối thiểu cho cuộc sống lâu dài, không tạm bợ, lại thuận tiện đi lại (để tiếp tế, để sinh viên di chuyển tới những địa điểm học tập khác nhau...).

Trong một chỉ thị khẩn và tối mật ký ngày 5.5.1965, Bộ Y Tế phải chuẩn bị kế hoạch sơ tán cơ quan Bộ và các đơn vị trực thuộc, trong đó có trường Y Hà Nội. Dựa trên các kinh nghiệm rút ra từ hồi kháng chiến chống Pháp, đồng thời đề phòng địch có thể đưa cả lục quân ra miền Bắc, Bộ Y tế dự kiến đưa các lớp đầu tiên (năm thứ nhất, hai và ba) của hai trường Y, Dược sơ tán lên huyện Chiêm Hóa (Tuyên Quang), còn các lớp trên (năm thứ 4-6) đã có khả năng nhận một số nhiệm vụ thì ở lại Hà Nội và một số địa phương, nhưng dưới dạng phân tán để vừa học tập, vừa phục vụ chiến đấu.

Sơ tán, nhưng vẫn phải duy trì đào tạo. Sơ tán chính là để duy trì đào tạo và đào tạo an toàn. Theo hướng như vậy, một vài trường đại học định tìm địa điểm gần biên giới phía Bắc để khi cần có thể rút sang đất Trung Quốc - giống như trường sư phạm hồi chống Pháp đã làm. Trường này được nước bạn cho phép đóng ở Nam Ninh (hồi đó gọi là “khu học xá Nam Ninh”) và được bạn hỗ trợ đủ thứ. Còn trường Y, ngay từ hồi chống Pháp đã không thể làm như vậy, thì nay càng không thể làm như vậy. Bởi lẽ, nó phải tồn tại và hoạt động ngay giữa lòng cuộc kháng chiến để phục vụ cuộc kháng chiến.

Trường Y cũng khẩn trương tự tìm địa điểm sơ tán. Lần này Chiêm Hoá - địa điểm lý tưởng thời chống Pháp - đã không được chọn, vì không hội đủ các điều kiện đề ra. Đường giao thông lên Chiêm Hoá khá xa (cách Hà Nội tới 200 km; rất không dễ đi, lại còn nhiều lần phải qua cầu, rất dễ bị cắt đứt. Nơi chứa được hàng ngàn con người cũng không tìm ra. Bởi vậy, từ tháng 3 đến tháng 7.1965 những người có trách nhiệm của trường đã đi tới nhiều địa điểm thuộc các tỉnh Phú Thọ, Bắc Giang, Tuyên Quang, Lạng Sơn... nhưng đều không có kết quả. Tới tháng 8.1965 thì chọn được địa danh "Khe nước lạnh" thuộc xã Vũ Lễ, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Sau gần hai tháng chuẩn bị (thủ tục xin mặt bằng, san nền, mua nguyên vật liệu...), công việc xây dựng cơ sở được tiến hành với lực lượng sinh viên của các lớp Y khoa năm thứ hai (Y2, khóa 1964-1970, gồm gần 500 người). Mới làm được hơn chục nhà tranh tre thì đến 10.9.1965 có lệnh ngừng lại. Lý do là sau hai lần khảo sát kỹ, nhà trường thấy đường đất vẫn quá xa xôi, việc vận chuyển tiếp tế của trường và việc đi lại của thầy và sinh viên sẽ gặp nhiều khó khăn. Cuối cùng, một đoàn do hai vị phó hiệu trưởng dẫn đầu (ông Phan Huy Chữ và ông Thẩm Trọng Tảo) đã tìm được một nơi gần hơn, ở các xã Hợp Thành, Tân Thành và Phủ Lý huyện Phú Lương, tỉnh Bắc Thái, cách quốc lộ 5-7 km (không quá xa và đủ an toàn), và con đường nhỏ từ quốc lộ dẫn vào địa điểm sơ tán rất tiện để xe ô tô có thể rẽ vào tận nơi. Đây lại là quê bác sĩ Nhâm Kim Duyệt, hồi đó là thầy ở bộ môn Sinh Lý Học, cũng là một thuận lợi vì thầy Duyệt có quan hệ rất tốt với chính quyền địa phương (sau này, ông xin chuyển công tác về trường Y Bắc Thái, khi trường này thành lập). Từ cuối tháng 9.1965, trường Y bàn giao cơ sở “Khe nước lạnh” (Vũ Lễ) cho một cơ quan khác để chuyển về xây dựng ở địa điểm mới từ ngày 16.10.1965.

Lực lượng huy động cho việc xây dựng và vận chuyển các phương tiện từ Hà Nội lên chủ yếu dựa vào gần 1000 sinh viên các lớp năm thứ hai ( khoá 1964-1970 )và năm thứ ba ( khoá 1963-1969 ) đảm nhiệm công việc xây dựng và Y1 ( khoá 1965-1971 ) đảm nhiệm vận chuyển, cùng 200 các thầy cô thuộc các bộ môn khoa học cơ bản, y học cơ sở, chính trị, ngoại ngữ, thể dục quân sự và nhân viên các phòng, ban, thư viện... Lực lượng này sau khi xây dựng xong cơ sở thì ở lại, khai giảng luôn; do vậy họ phải cố hoàn thành trong vòng hai tháng để khỏi quá muộn.

Có thể kể tên một số sinh viên từng là nòng cốt hoặc tham gia tích cực lực lượng đó: Y1 (khóa 65-71): các anh Bùi Hữu Chuân, Vương Tiến Hòa (cả hai sau làm ở trường), Lê Phúc Cầu (hiện là trưởng khu khám bệnh viện Hữu Nghị)..., các chị Nguyễn Thị Giỏi (sau là giáo viên nhà trường, hy sinh đêm 22.12.1972 khi máy bay B52 ném bom bệnh viện Bạch Mai), Đoàn Hạnh Nhân (sau làm ở bộ môn Ký sinh trùng và công tác thanh niên của trường), Tôn Kim Thanh (nay là viện trưởng Viện Mắt Trung ương), Nguyễn thị Lạc Hồng (con một gia đình Việt kiều ở Marốc gửi về học trong nước); Y2 (khóa 64-70, đã học ở Hà Nội một năm): có các anh Ngô Toàn Định, Nguyễn Thế Hiệp, Trương Văn Việt, Nguyễn Tiến Lương, Lê Xuân Lan, Tôn Thành Minh, Nguyễn Tiến Nạo... Bốn sinh viên Lương, Lan Minh, Nạo sau đó là đoàn trưởng và đoàn phó của hai đoàn sinh viên gồm 95 người gia nhập quân đội cuối 1968, khi họ lên Y5. Còn Y3 (khóa 63-69): sau này ra trường có một số về các bộ môn như các anh, chị Tôn Thất Bách (Ngoại), Đặng Văn Tằng và Nguyễn Văn Ngọc (Sản), Nguyễn Hữu Toản và Đinh thị Bích Thu (Nhi), Bùi Tố Nga (Mắt), Nguyễn Văn Bảo, Nguyễn Viết Thiêm (Tâm Thần)... hoặc công tác ở nơi khác như các anh Lại Phú Thưởng, Lê Ngọc Trọng (sau làm Hiệu trưởng trường Y Bắc Thái rồi Thứ trưởng Bộ Y Tế)...

Cơ sở sơ tán của trường là một khu vực khá rộng thuộc phạm vi 3 xã kề nhau là Hợp Thành, Tân Thành, Phủ Lý (huyện Phú Lương), sau này thêm một xã thứ tư là Phấn Mễ, nằm tách riêng nhưng cũng không xa lắm (thuộc khu mỏ than gần ngã ba Bờ Đậu, cách thành phố Thái Nguyên khoảng 20 km). Mật danh trường lúc này để giao dịch thư từ là Trường Bổ Túc Văn Hoá Hoàng Hoa Thám. Để đề phòng thiệt hại lớn khi bị đánh phá, các bộ phận cấu thành đã đóng rải rác thành nhiều cụm theo “khối” lớp và bộ môn, trải dài khoảng 10 cây số; có đủ hầm hào. Khu sơ tán được chia thành các khối với tên gọi: K1 có các lớp và bộ môn thuộc năm thứ nhất; K2 là năm thứ hai; K3 chỉ có nửa số lớp năm thứ ba, nửa còn lại luân phiên về học lâm sàng ở Hà Nội hoặc ở các nơi sơ tán khác; K4 lúc đầu ở gần ngay đấy (hồi đó còn có một số sinh viên Lào), sau rời xuống Phấn Mễ, là chỗ dành riêng cho khối chuyên tu, hàm thụ, dự bị đại học, kỹ thuật viên, v.v...; còn K5 là khối điều hành trung tâm (gọi là “Đoàn bộ”) có vị trí gần như cách đều các khối khác, gồm các phòng, ban (kể cả thư viện, ban in, các kho tàng, khu máy phát điện) thuộc bộ phận quản lý, lãnh đạo. Trong một khối, lớp nọ nằm cách xa lớp kia; và ngay trong một lớp, nhà ở của mỗi tổ sinh viên cũng cách nhau khá xa. Tất cả nằm dưới tán lá cây kín đáo, có đủ hầm hào trú ẩn được nguỵ trang cẩn thận. Nhiều lớp, nền được đào sâu dưới mặt đất khoảng một mét, bao quanh có tường đất dầy cao khoảng nửa mét; như vậy, vẫn đủ ánh sáng ban ngày nhưng người ngồi học thì được che chắn an toàn. Từ mỗi lớp, có nhiều hào giao thông toả ra xung quanh, đảm bảo phân tán cả trăm con người chỉ trong chốc lát.

Ổn định đời sống nơi sơ tán

Mỗi lớp có một tổ cấp dưỡng, bếp và nhà ăn riêng. Mỗi khối hình thành một đơn vị quản lý, chỉ đạo và gồm đầy đủ các bộ môn cũng như các lớp sinh viên của một niên khoá. Trong học kỳ đầu của năm học 1965-1966 số sinh viên ở nơi sơ tán là 1.340 với gần 200 thầy và nhân viên; tới năm học 1967-1968, số sinh viên dã lên tới 1.770 với gần 400 cán bộ, nhân viên (số liệu tính đến tháng 6.1968). Đó là vì năm sau đã tuyển sinh nhiều hơn năm trước.

Các phó hiệu trưởng lên thường trú để phụ trách khu vực sơ tán là ông Thẩm Trọng Tảo (từ 1965 đến 1967) và ông Đỗ Doãn Đại (lên thay thế được một năm thì đến thời điểm Mỹ tuyên bố ngừng đánh phá miền Bắc). Theo cách tổ chức hồi đó, mỗi lớp năm thứ nhất (do còn bỡ ngỡ) có một thầy giữ chức “chủ nhiệm”, với nhiệm vụ lo toan mọi mặt công tác, gồm cả giáo vụ, quản lý sinh viên, quản trị, để bảo đảm cho sinh viên ăn ở và học tập tốt. Đó là những cán bộ đi học, mới tốt nghiêp BS, nên vừa có kinh nghiệm quản lý, lại rất gần gũi sinh viên (dù không dạy, vẫn được sinh viên coi như thầy) và thật sự là cái cầu nối để cấp cao nhất hiểu rõ tình hình chung. Khi lên Y2 thì sinh viên không cần có “thầy chủ nhiệm” nữa. “Thầy” lại đón nhận một lớp của khối Y1 mới vào trường. Có thầy đã làm chủ nhiệm nhiều năm, công sức đóng góp không phải nhỏ.

Sau này khi trường trở về Hà Nội (1973), các thầy “chủ nhiệm” đã chuyển sang làm cán bộ giảng (như thầy Trần Kỷ sang bộ môn Sản Phụ (đã mất), thầy Nguyễn Thản sang bộ môn Lao (mới nghỉ hưu), hoặc sang cơ quan khác (như các thầy Trần Quê (đã mất), Phạm Quang Y, Hồ Ngọc Kê, Nguyễn Hữu Nam, Nguyễn Tiến Chúc...).

Những “thợ xây” sinh viên phần lớn chưa quen lao động nặng, chưa hề biết làm lán, nhưng dưới sự hướng dẫn của nhân viên Ban Kiến Thiết, đã xắn tay áo chặt cây, san nền, khai thác và vận chuyển tranh, tre, nứa, lá... rồi khẩn trương đục đẽo, dựng khung, đan liếp, lợp mái. Do tuổi còn trẻ, hăng hái, hiểu biết, họ quen việc rất nhanh. Quả thực, trường còn phải trau dồi cho họ những kỹ năng nghiệp vụ cao gấp trăm lần việc lao động chân tay, như dựng lán. Cứ như thế, sau hơn 3 tháng, từ cuối tháng 10.1965 đến tháng 2.1966 ở nơi trường sơ tán đã mọc lên 153 “công trình” đầu tiên với tổng diện tích 9.420 m2, bảo đảm kỹ thuật và chất lượng cho kịp khai giảng năm học. Khối nào cũng có ít nhất vài ba “giảng đường”, loại to nhất có khoảng 100-150 chỗ ngồi, còn loại nhỏ thì vài chục chỗ. Các bộ môn đều có nhà thực tập, phòng thí nghiệm, văn phòng và nơi ăn ở cho nhân viên và các thầy. Lúc mới lên, sinh viên còn phải ở nhờ nhà dân, sau đã xây dựng từng dãy nhà tập thể cho mỗi lớp và cho riêng nam, nữ. Mọi chỗ, gồm bếp, nhà ở, nhà thực tập và lớp học... đều có đủ hầm hào; do vậy đến nay chưa ai tính nổi số hầm hào đã được sinh viên đào, đắp, và tu sửa hàng năm. Các lớp của năm học sau còn tiếp tục công việc xây dựng, đến cuối năm 1966, đã hoàn thành 343 “công trình” với 22.526 m2 diện tích sử dụng. Những nhà làm sau đều đẹp hơn, chắc chắn hơn. Như vậy, đến 1966 đã hoàn tất việc xây dựng; sinh viên các khoá sau chỉ việc “hưởng” di sản do đàn anh để lại và chỉ bỏ sức tu sửa nó.

Nước dùng trong sinh hoạt rất sẵn vì ở vùng núi hầu như chỉ khoét sâu chút ít xuống đất là có giếng, nước rất trong (giặt được cả quần áo trắng). Nhiều lớp có sáng kiến làm giếng ngay trong nhà tắm, có thể ngồi mà múc dễ dàng, được các bạn nữ rất hoan nghênh. Chất đốt chưa thành vấn đề vì sinh viên tự đi kiếm củi với mức qui định cho mỗi đầu người là 50kg/tháng. Những người quen lao động chân tay chỉ dành ra vài giờ là nộp đủ số củi quy định, lại còn tương trợ được các bạn nữ. Ngày đó rừng còn chưa bị chặt phá tàn hại tới mức báo động như bây giờ.

Việc chuyển nhà trường lên "định cư" tại khu sơ tán với qui mô lớn thực sự là một công tác to lớn, nặng nhọc và đột xuất, kéo dài nhiều tháng, với phương tiện chuyên chở từ Hà Nội lên (đường xa 120 km) cho tất cả các khu vực mà chỉ gồm có hai chiếc xe tải Gaz 53 ("Molotova") với sức chở mỗi chiếc khoảng 4 tấn.

Những người lái là các ông Hoàng Minh (đã mất) và Nguyễn Ngọc Sinh (người trở thành kỳ cựu nhất trong tổ lái xe còn làm việc đến cuối năm 2000). Gì chứ lái xe ban đêm thì họ đã quá quen thuộc; nhưng để đi quãng đường từ Hà Nội lên địa điểm sơ tán thì họ mất gấp đôi hay gấp 3 thời gian so với bây giờ, vì đường và xe đều rất xấu.

Những trang, thiết bị của các bộ môn, ngoài đồ gỗ, chủ yếu gồm dụng cụ thủy tinh và máy móc nhỏ, đã được chuyển lên đầy đủ. Có một thứ không thể thiếu ở nơi sơ tán, đồng thời cần bảo vệ tránh bom đạn là hàng vạn cuốn sách, báo y học đã được mang theo cho kỳ hết, được phân loại và xếp ngay ngắn vào các giá trong hai căn nhà sàn, và luôn luôn phải lo đề phòng hai kẻ thù nguy hiểm trước mắt là mối và lửa. Chế độ cho mượn sách tương đối dễ dàng vì không có chỗ cho mọi người ngồi đọc tại chỗ.

Có một loại học cụ buộc phải có, nhưng lại "cấm mọi người ngoài trường không ai được biết” ở bất cứ nơi sơ tán nào của trường. Đó là những bộ xương người của bộ môn Giải Phẫu. Nếu đồng bào trong xóm phát hiện được thì khó bề yên ổn.

Nặng nề nhất là những cỗ máy phát điện cổ lỗ hồi đó (càng cồng kềnh bao nhiêu thì công suất càng thấp đi bấy nhiêu), nhưng rất đắc dụng trong phục vụ cho sinh hoạt hoặc cho hoạt động của một số bộ môn.

Việc tiếp tế hàng tháng cho hàng ngàn con người, không phải chỉ có ân, ở, mà còn làm việc, học tập là mối lo toan thường trực của các phòng hậu cần. Gạo còn có thể mua ở kho Đu, nhưng bột mỳ và các nhu yếu phẩm khác đều phải chuyển từ dưới xuôi lên. Tem phiếu mua hàng của sinh viên thì tập trung vào phòng Quản trị; tiêu chuẩn giấy viết thì phòng Giáo Tài phải lo mua cho các “em”.

Khẩu hiệu của trường: “Tất cả vì sinh viên thân yêu” khiến dần dần sinh viên được gọi là “em” từ lúc nào không hay. Những chuyến hàng lương thực, thực phẩm, dụng cụ, hóa chất, súc vật thí nghiệm cùng thức ăn nuôi chúng và "một trăm thứ bà dằn" mua theo tem phiếu hàng tháng của sinh viên và cán bộ gặp khi đường trơn, xe không leo nổi "Dốc Cọ" bất hủ thì anh chị em phòng Quản trị đành ghé vai khiêng vác. Mùa Xuân tuy mưa lầy nhưng xe còn cố vào được tận nơi, dẫu không tránh khỏi phải dùng sức người qua những đoạn đường mệnh danh “cơ giới thua đi bộ”. Nhưng mùa lũ thì khu sơ tán hầu như bị cách ly với thế giới bên ngoài. Dốc Ao Dài xe leo ỳ ạch, cứ như người hen bị đứt hơi. Vậy mà, mùa lũ năm 1968, ở tận trên đỉnh dốc Ao Dài nước còn ngập đầu người, sinh viên nam nữ các lớp phải rồng rắn men theo sườn đồi ra Đu vác bột mỳ với mức 10kg mỗi đầu người. Vậy mà, có tổ lúc về bị lũ cuốn, đành bỏ mỳ để chạy thoát thân.

Sau, để cải thiện sinh hoạt và phần nào đỡ khó khăn về vận chuyển, nhà trường đã xây lò bánh mỳ với công suất khoảng 2.000 chiếc/ngày, chấm dứt món bánh bao "nắp hầm" rắn đặc và cứng gần như ổi xanh. Món “đặc sản” này của các bếp ăn sinh viên mà chính sinh viên cũng khó nhằn nổi.

Bột mỳ nhào nước, nắm lại hình khum khum như chiếc nắp của hầm trú ẩn cá nhân rồi đem hấp cho chín: ăn rất cứng; sinh viên nói đùa là nếu “địch” lên đến đây thì dùng nó để ném thay lựu đạn. Thức ăn đạm bạc, sức trẻ còn cố nuốt được, nhưng các thầy già thì nuốt không trôi cái món nắp hầm này. Bộ môn Sinh lý học khi giảng về phản xạ “cái gì thế” đã được sinh viên thêm thắt vào để thành “cái gì thế, ăn được không”... nói lên mức ăn hồi đó khi chưa có lò bánh và chưa tăng gia sản xuất để tự cải thiện.
Về sau, tại nơi sơ tán đất rộng, người thưa, sinh viên và cán bộ có thể chân nuôi, trồng trọt thoải mái. Các bà, các chị phòng Quản trị có những nương sắn mà ai cũng có thể nhổ “vô tư” luộc ăn. Bác Đôn, bộ môn Sinh lý học nuôi gà gần như thành một trại với hàng trâm con; nhưng chẳng may gặp “mùa toi” thì ăn vội cũng không kịp. Bác Bảng ở Ban in còn có cả "nhà ngói, cây mít", hàng ngày đạp xe đi làm như ở Hà Nội. Thầy L. ở Nga vừa về đã lên ngay nơi sơ tán (bộ môn Sinh Lý Bệnh, K3) được sinh viên Y3 đem tặng rất nhiều thứ “cây nhà, lá vườn” tự tăng gia được; hôm đó thầy được ăn canh rau đay-mướp, nấu với... thịt ếch.

"Thủ đô" K5 là nơi “giao lưu văn hóa” giữa các khối. Mỗi khi có việc lên đó là một dịp gặp nhau, nói cười hể hả, nhận thư, nhận báo từ Hà Nội gửi lên. Mỗi khi có xe dưới xuôi lên là nhộn nhịp người ra đón hàng, đón người.

Xe tải tất nhiên chở hàng là chính nhưng không chuyến nào không chở cả người, có chuyến chở kỷ lục là 63 hành khách không vé (!). Còn xe con do các ông Thuyết, ông Thuần lái thì chở người là chính nhưng cũng không chuyến nào không kèm hàng, kể cả hàng tươi sống (như ếch và chuột nhắt trắng cho các bộ môn làm thí nghiệm). Các thầy già, như thầy Vũ Công Hòe, thì được tặng vé hạng nhất, nghĩa là được ngồi cabin xe tải, nếu không thu xếp được xe con chở thầy.

Có lần Thầy Hoè lên khu sơ tán đi cùng ông Phan Huy Chữ (bí thư Đảng uỷ); sắp tới nơi thì cả hai phải xuống xe đi bộ vì đường trơn, lầy lội. Mỗi vị được “ưu tiên” cấp một chiếc gậy chống để đi bộ cho an toàn; nhưng không hiểu sao chỉ đi một quãng ông Chữ đã trượt chân, chới với suýt ngã. Vốn giỏi thơ và thâm thuý, Thầy đã ứng tác tại chỗ hai câu thơ

Tay cầm chiếc gậy “chủ quan” Chân chưa chạm đất, tay toan với trời

Mọi người cười vui, quên cả mệt. Ông Chữ cứ gật gù khen thơ hay và xin tiếp thu, như em tiếp thu lời răn bảo của anh trong công tác và trên đường đời. Không ai ngờ ông mất trước thầy Hoè tới 20 năm. Trong số giáo sư lão thành của trường ai cũng biết Thầy Hoè lên khu sơ tán nhiều hơn cả và luôn luôn đem theo niềm vui dí dỏm và lạc quan cho mọi người.

Trong không khí hào hùng chung của cuộc kháng chiến mà ai cũng biết rằng sẽ tất thắng, đời sống trên khu sơ tán với những thanh niên trẻ măng, đầy nhiệt huyết, dù khó khân, thiếu thốn nhưng vẫn vui nhộn mà chẳng cần phải có những quán nước vỉa hè như ở giữa Hà Nội bây giờ.

Đôi khi không bị ho, họ cũng cố dặn ra vài tiếng để lên trạm y tế xin lọ xirô "Bổ phế" về chấm bánh mỳ. Nếu nhận được vài viên Terpin thì họ bỗng hết ho và xin trả lại thuốc. Và đời vẫn cứ tươi như thường.
Ông Nguyễn Phong (cán bộ Văn phòng Đảng ủy hồi đó) đã đầu têu kê chiếc bàn nhỏ trong sân nhà thầy Tảo, bày đèn hoa kỳ, khay chén trà, điếu cày, chung quanh có ít chiếc ghế gỗ thấp. Ai đi qua, thấy vị phó hiệu trưởng Tảo khoác áo bông ngồi thu lu cạnh bàn cũng liên tưởng đến ông già hàng nước ở một góc phố nào đó của Hà Nội. Thế là tất cả sà vào và chuyện bắt đầu nở như pháo ran, thường xoay quanh đề tài ăn uống để đỡ thèm và đỡ nhớ Hà Nội. Thầy Tảo chỉ cười hiền lành và rộng lượng khi nghe bọn đàn em ăn nói quá “bốc”. Cán bộ và sinh viên nhà trường có “phong trào” uống chè xanh chính là bắt đầu từ xứ chè Bắc Thái.
Điều thú vị là tại khu sơ tán bỗng “nổ” ra một đám cưới, mở đầu cho các đám cưới khác. Rất vui, rất đông, tuy rất đơn giản mà vẫn đủ mọi thủ tục và lệ bộ cơ bản của một đám cưới. Quần áo cô dâu chú rể thì thua quá xa hiện nay (không áo vét, tuy xơ mi trắng bong nhưng không cravat, quần thẳng nếp là nhờ “vuốt” kỹ (không có bàn là); cô dâu mặc quần “tây”, xơ mi màu), nhưng mức độ vui vẻ, náo nhiệt, chân thành thì gấp mấy lần các đám cưới tại nhà hàng hiện nay. Một trong những đám cưới đó là của thầy Đái Duy Ban, làm ở bộ môn Hoá Sinh. Bạn cùng khoá đặt cho thầy một cái tên rất ấn tượng, chỉ cần được nghe một lần là nhớ mãi.
Về việc đặt tên mới (rất gần tên thực khi phát âm) thì thầy Ninh Đức Dự cũng rất được đồng nghiệp “chiếu cố”, nhưng người ta nhớ thầy vì ai có đồng hồ hỏng lập tức thầy chẩn đoán ra bệnh và điều trị khỏi trong chớp mắt, trả lại cho chủ nhân chiếc đồng hồ chạy nghiêm chỉnh (!); mặc dù nghề chính của thầy là giảng dạy và nghiên cứu Vi Sinh.

Điều kiện sân bãi cũng khá thuận lợi cho các môn bóng, nhất là ở địa điểm được đặt tên một cách ngẫu hứng là “Bãi bằng”, ở K1. Các giáo viên thể dục thể thao như các thầy Hưng, Lâm, Hùng, Thường và cô Nghi hầu như lăn lộn suốt ngày với sinh viên. Đội bóng rổ nhà trường luôn luôn được gửi đi thi đấu. Hồi đó đi đâu được sử dụng ô tô là quá hạnh phúc, nhưng đội bóng rổ đi thi đấu lại chẳng sung sướng gì, vì ngồi như nêm cối. Có lần xe bị phạt ở đầu cầu Long Biên, cảnh sát trố mắt không hiểu làm thế nào mà chiếc xe con lại có thể nhét nổi chừng nấy con người.

Phong trào văn nghệ rất sôi nổi, nhiều hội diễn được tổ chức với lực lượng hùng hậu của sinh viên, sự góp sức của các thầy và nhân viên. Khỏi nói mức độ say mê của sinh viên, nhưng cán bộ, nhân viên các phòng, ban đều còn khá trẻ nên cũng hăng không kém. Có lần, một ban đồng ca lên góp vui với cái tên khi giới thiệu làm ngơ ngác khán giả: tốp ca Y-Thể-Kiến-Hành-Tài-Lò (tên tắt của các đơn vị góp ca sĩ: Phòng Y Tế, bộ môn Thể dục Thể thao, ban Kiến thiết, phòng Hành chính, phòng Tài vụ và Lò bánh mỳ).

Tổ chức mạng lưới Y tế khá chu đáo vì đó là thế mạnh của trường. Nhiều đơn vị bạn muốn học tập nhưng rồi phải “chào thua” vì không lấy đâu ra đội ngũ bác sĩ hùng hậu đến như vậy. Mỗi khối có một trạm y tế do y tá phụ trách, nhưng người khám bệnh lại là các thầy ở bộ môn luân phiên làm nhiệm vụ. Sinh viên, cán bộ và cả dân chúng đều tin tưởng và không quá lo lắng khi ốm đau. Bệnh xá của trường đóng ở gần K5, có 20 giường bệnh và có cả phòng mổ dã chiến, làm nhiệm vụ "tuyến trên" cho các trạm. Trong năm 1968, không kể các trường hợp ốm đau thông thường, bệnh xá đã nhận hơn một chục trường hợp đẻ thường của nhân dân và hai trường hợp mổ ruột thừa (do các bác sĩ Đỗ Nguyễn Phương và Nguyễn Gia Đồng làm phẫu thuật), chưa kể các tiểu phẫu. Việc đồng bào thiểu số không đẻ ngoài vườn như tục lệ mà tìm đến trạm xá của trường là điều rất có ý nghĩa. Điều áy náy là sau khi trường rút về xuôi thì liệu trạm xá xã có làm được tốt việc này hay không. Những thực tế tương tự đã giúp các thầy rà lại mục tiêu đào tạo cho sát hợp hơn nữa. Sức khỏe của sinh viên và cán bộ được duy trì tốt; điều lạ là nữ sinh viên phần nhiều còn lên cân.

Mặc dù câu nói cửa miệng của dân miền xuôi trước đó là “lử khử, lừ khừ, chẳng ở Đại Từ thì ở Vũ Nhai” để nói lên hai huyện thuộc Thái Nguyên và Lạng Sơn là hai cái ổ sốt rét; vậy mà mấy năm sơ tán ở vùng núi Thái Nguyên không có trường hợp sốt rét nào khiến mọi người càng nhớ đến công trình tiêu diệt sốt rét trên toàn miền Bắc của thầy Đặng Văn Ngữ. Huân chương và danh hiệu nào cho xứng với công lao và tâm huyết của Thầy họ? Lúc này, cả trường đều tự hỏi, thầy Ngữ thân yêu của mình nay đang ở địa danh nào và đang làm gì trong miền Nam mênh mông khói lửa?. Và ngay sau đó càng bàng hoàng và đau đớn khi nhận được tin Thầy (và Thầy Thạch) đã hy sinh.

Phong trào trồng cây thuốc nam do phòng Y Tế phối hợp với bộ môn Đông Y phát động năm 1968 được các thầy thuốc tương lai hưởng ứng sôi nổi. Mỗi lớp có một vườn thuốc Nam và ít nhất là một bộ kim châm cứu. Thời kỳ ở Bắc Thái, thuốc nam và châm cứu có tác dụng khá tốt, kể cả về mặt dân vận. Hầu như lớp nào cũng có vài “thầy lang sinh viên” - cả nam và nữ - luôn luôn sẵn lòng giúp đỡ bà con địa phương trong điều trị những bệnh thông thường. Chẳng hiểu đâu là tác dụng thật sự của châm cứu, đâu là tác dụng tâm lý, nhưng bà con thì rất tín nhiệm các “thầy lang” và các “cô lang”, vừa trẻ đẹp, lại vừa “mát tay”.

Có cả một số sinh viên Lào theo học. Họ được tổ chức thành một tổ, bên cạnh các tổ người Việt vì họ hoà nhập rất tốt, cả về ngôn ngữ, cách sinh hoạt. Ngày tết cổ truyền của họ, họ tưới nước cho mọi người khó ai chạy trốn nổi. Có thầy cô bị tưới nước ướt như chuột lụt, nhưng đó sẽ là người may mắn nhất trong năm. Lại có một nhóm 6 y sĩ Lào bổ túc lên bác sĩ, được xếp học chung với lớp chuyên tu người Việt. Các bạn Lào cũng lấy tên, họ Việt Nam để gọi cho thân thiết và hoà đồng; nhưng nếu gọi họ bằng tên Lào thì họ càng thích thú: Vy-lay-văn, Xom chay, Bun-tơm, Bun Um... Chính số các bạn Lào này đã đem lại cho các tối hội diễn những tiết mục đặc sắc và bất ngờ nhất.

Hội diễn còn có sự tham gia của lớp H. Đó là lớp các sinh viên dân tộc ít người. Lần đầu các thầy và sinh viên được biết thế nào là tiếng khèn, tiếng đàn môi... Anh chị em sinh viên Campuchia cũng được xếp vào lớp H này và cũng tham gia biểu diễn, mặc dù họ chưa thạo tiếng Việt lắm. Sau này, khi về nước hình như số phận của họ khá bi thảm dưới bàn tay sát nhân của Pôn Pốt, nhưng tin tức cụ thể về họ thì không ai rõ.

Một số nhà báo nước ngoài có dịp đi thăm "Trường đại học trong rừng" này đã thích thú khi bắt gặp những cái chòi xinh xắn và cheo leo ở trên 5, 7 cây to, với vài thanh niên da nâu nâu, tóc hơi xoân, ngồi đọc sách. Đó là sinh viên dân tộc ít người, được tập trung riêng thành lớp H để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho họ trong học tập (năm học 67-68 có tới 8 lớp Y2, đánh số A, B, C, D, E, F, H, K, mỗi lớp khoảng 100 người. Sau này, một số vào công tác ở Tây Nguyên đã là chủ tịch tỉnh hay bí thư tỉnh uỷ. Gần đây, Đài TNVN trong phóng sự về thủy điện Yali có nói tới bác sĩ Sô Lây Tăng ở thị xã Pleiku. Đó là một cựu sinh viên của lớp H, nay là bí thư tỉnh ủy. Sinh viên lớp K rất dễ nhận ra bởi bộ đồng phục có chiếc áo bông màu xám, hoặc xanh tím: đó là lớp đã học năm thứ nhất tại Trung Quốc, sau về tập trung vào lớp Y2K, khi lên tới Y3 thì hòa chung vào các lớp khác.

Học tập ở nơi sơ tán

Việc học tập nhanh chóng đi vào nền nếp. Năm học đầu tiên ở nơi sơ tán khai giảng muộn mất hơn 2 tháng vẫn được đánh giá là thành công vì sự nỗ lực cao độ của thầy trò và nhân viên toàn trường trong quá trình xây dựng cơ sở vật chất tại chỗ và vận chuyển trang thiết bị từ Hà Nội lên.

Rõ ràng, chương trình các môn lý thuyết phải tinh giản bớt cho phù hợp với quỹ thời gian còn lại; nhưng phần nào có thể tinh giản thì phải do cả tập thể các thầy trong mỗi bộ môn quyết định. Bù lại, sinh viên khá đủ sách giáo khoa (nghĩa là vài người chung nhau một cuốn). Họ nghe giảng và cố ghi chép tại lớp; về nhà đối chiếu với sách để bổ sung bài cho đủ. Những người học giỏi chưa thỏa mãn với sách thì đến hỏi thêm thầy. Thì ra, ở nơi sơ tán quan hệ thầy trò rất gần gũi, việc gặp thầy rất dễ dàng so với khi còn ở Hà Nội, tội gì chẳng tranh thủ. Mặt khác, các thầy trẻ cũng thường xuyên xuống các lớp sinh viên với nhiệm vụ là “bám sát” và giải đáp thắc mắc bài học. Nhưng bên cạnh những sinh viên rất giỏi, thì nhiều sinh viên “đánh vật” với bài ghi ở lớp không xong. Điều này nói lên trình độ sinh viên trong một lớp cũng rất chênh lệch nhau. Mỗi lần lên lớp, thầy đứng trước 100 sinh viên say sưa thuyết trình bài giảng, với phương tiện chỉ có phấn, bảng. Sinh viên nhận ra rất nhanh thầy nào giảng “dở”, thầy nào giảng “hay”. Giảng “hay” tức là trình bày sáng sủa, mạch lạc, nhưng chủ yếu là nhiều thông tin, nhiều điều bổ ích, thiết thực.

Thầy V. khi giảng về cơ chế tác dụng của thuốc cứ như đọc lại từng chữ bài đã in ở sách (sinh viên gọi là “đọc chính tả”); làm thế, quả là rất thích hợp với lớp H, nhưng với các lớp khác thì sinh viên lại chán. Thế là họ tìm cách “lỉnh” khỏi lớp (vào thời gian nghỉ giữa buổi), giống hệt như các lớp sinh viên “cha ông” họ từ hồi Pháp thuộc, như thứ bệnh di truyền không thể chữa nổi. Việc này đến tai bác Tư (phụ trách giáo vụ khối Y3) khiến bác phải chấn chỉnh - mà bước đầu tiên là rình để bắt quả tang ai hay trốn. Cách quản lý sinh viên cổ lỗ này rất ít hiệu quả; và nói chung là thua “trí tuệ” (vốn rất ranh ma) của sinh viên. Về sau thầy V. (ra trường 1965) tự xin đi khỏi trường (và một số thầy cùng khoá cũng làm như vậy).

Đoàn Thanh niên rất hay tổ chức các buổi nói chuyện khoa học, mời các thầy làm diễn giả. Số sinh viên đến dự rất đông: ngoài nguyên nhân chính là lòng ham mê, đề tài hấp dẫn và bổ ích; còn nguyên nhân phụ là ở nơi sơ tán có ngồi nhà với ngọn đèn dầu hoả leo lét thì cũng buồn, trong khi ở hội trường có đèn măng-sông, đèn điện, có hát hò trong giờ giải lao.

Các buổi thực tập với dụng cụ thí nghiệm, súc vật, hoá chất... không thua khi còn ở Hà Nội. Tuy nhiên khi chiến tranh càng ác liệt thì các buổi thực tập càng đơn sơ hơn; mặc dù sự nỗ lực của khối hậu cần bao giờ cũng hết sức đáng biểu dương. Bộ môn Sinh Lý bệnh có lần thầy đang trình diễn thí nghiệm gây sốc chấn thương trên chó (phục vụ thời chiến) bằng cách đập vồ liên hồi vào đùi con vật bị trói ngửa trên bàn. Chó đang kêu la ầm ĩ bỗng im bặt. Thì ra nó chết do đói khát và mất sức trong những ngày bị vận chuyển từ Hà Nội lên, không sao gượng nổi để hợp tác với thầy cho đến đầu đến đũa. Hôm đó, không có chó thay thế, hoặc giờ học đã quá muộn, thầy đành “nói” thí nghiệm (thay cho làm thí nghiệm). Những trường hợp như vậy không quá hiếm ở mọi bộ môn; và có một từ ai cũng biết để gọi hiện tượng này: giờ thực tập “chay”. Nhưng “chay” còn hơn là cho sinh viên về sớm.

Khoá ra trường năm 1965 và 1966 được giữ lại trường rất đông, đã trở thành chủ lực trong việc giảng các bài thực tập cho sinh viên Y1, Y2, Y3 ở khu sơ tán. Khi họ bước lên bục giảng lần đầu, “thâm niên” công tác của họ mới vẻn vẹn có vài tháng để “kinh qua” khuân vác dụng cụ, đào hầm, làm lán... nên khi đứng lên bục giảng lần đầu khó tránh khỏi lúng túng. Nhưng đa số thích nghi và trưởng thành rất nhanh. Việc giữ họ lại trường dựa vào “chất lượng toàn diện”, do vậy lực lượng này có nhiều người đã từng ở bộ đội, y tá, hộ sĩ, nhân viên... trước khi vào trường Y, nên đã phát huy sở trường rất tốt trong hoàn cảnh sơ tán cần khắc phục vô số khó khăn trong điều kiện thời chiến (chỉ huy làm lán, đào hầm, tổ chức tăng gia, ổn định cuộc sống...); nhưng lại gặp nhiều khó khăn khi cần đi sâu vào chuyên môn vì tuổi không còn trẻ nữa.. Khoá 1966 có khá hơn rõ rệt, vì trẻ hơn.

Khoá này vào trường năm 1961 có khoảng hơn 300 sinh viên với ba đặc điểm chính: thứ nhất hơn một nửa khoá là học sinh Miền Nam, họ học bổ túc công nông ( một năm ba lớp ) hoặc cán bộ đi học. Thứ hai ngay khi vào học, khoá này được công bố đây là khoá đào tạo cấp tốc phục vụ cho chiến trường nên chương trình rút ngắn, bỏ bớt các môn cơ bản, nặng về học thực hành và đến bệnh viện thực tập ngay từ ngày đầu mới nhập trường. Thứ ba là sau khi học xong ba năm đầu, khoá được chia làm hai loại: hơn một phần ba số sinh viên được chọn chiến trường miền Nam học thêm một năm và lên đường ( Trịnh Bình, Phương Liên, Phương Dung ... ); số còn lại học hết năm thứ 5 thì một nửa vào quân đội và một nửa học tiếp chuyên khoa hoặc đa khoa đồng thời được bổ sung một số môn cơ bản như hoá vô cơ, hoá hữu cơ vào năm thứ năm và tốt nghiệp vào tháng 12 năm 1966. Khoá này được giữ lại trường khá đông và sau này họ trở thành những cán bộ chủ chốt của các bộ môn như Phan Thị Thu Anh, Phạm Thị Thu Hồ, Phạm Thị Minh Đức, Phạm Khánh Hoà, Nguyên Xuân Nghiên, Nguyễn Thị Hảo, Ma Thị Huế, Nguyễn Minh Nguyệt, Nguyễn Hoàng Sơn ... ).

Dù sơ tán, môn ngoại ngữ vẫn được học, nhằm đảm bảo cho sinh viên khả năng “tự học vươn lên” và đây là điều tự hào của trường khi nêu thành tích của ta với các đoàn quốc tế đến tham quan, ý nói: “dù trước mắt khó khăn mọi bề nhưng trường Y vẫn không quên lo cho tương lai”. Tuy vậy kết quả học ngoại ngữu của sinh viên nhìn chung không mấy khả quan.

Sinh viên vào trường chưa có chút vốn liếng ngoại ngữ nào từ bậc phổ thông, mà số giờ ngoại ngữ quy định ở đại học lại rất hạn chế (lại còn bị cắt xén theo tình hình chung, giống như các môn học khác) nên kết quả học tập còn quá xa mới đạt mức mong muốn. Một số sinh viên đạt được kết quả rất đáng khen về ngoại ngữ, nhưng chỉ là con số rất ít. Theo điều tra, họ là học sinh có năng lực cao nên không phải dành quá nhiều thời gian cho các môn Y học; ngoài ra, do họ đã có chút vốn ngoại ngữ từ trước, nên nay càng nỗ lực, lại được thầy cô khuyến khích. Trái lại, tuyệt đa số học ngoại ngữ đã “trả hết chữ nghĩa cho thầy” khi không học tiếp nữa. Ai nhìn thấy sinh viên dân tộc vã mồ hôi ngồi “đánh vần” tiếng Nga ở bờ suối mới thấy thương họ biết dường nào. Thì ra, có người nói tiếng Kinh chưa thạo, bất cứ từ Mô học, Vi Sinh hay Dược lý nào đối với họ cũng là... ngoại ngữ, nay lại phải học thêm Nga văn.
Những năm sơ tán, các trường đại học thiếu nguồn tuyển sinh. Số học sinh học hết cấp III chưa dồi dào, lại vào quân đội một số lớn, do vậy nhiều năm số xin vào trường thấp hơn số định tuyển. Hồi đó, chẳng trường đại học nào là không mở rộng đào tạo. Trường Y, năm học 67-68 có tới 8 lớp Y2, đánh số A, B, C, D, E, F, H, K, mỗi lớp khoảng 100 người. Chất lượng “đầu vào” ắt là rất thấp. Có người không sao học nổi Giải Phẫu, Sinh Lý... với quỹ thời gian hạn hẹp của mình thì lại phải chia xẻ cho môn ngoại ngữ để sau này có “chiếc chìa khoá vàng mở cửa vào lâu đài khoa học”.
Có thầy đã đề nghị: miễn ngoại ngữ cho số sinh viên kém để họ có thể học tốt các môn khác; tập trung công sức thầy ngoại ngữ bồi dưỡng cho số ít sinh viên giỏi để có thể “ăn chắc” môn ngoại ngữ... nhưng chẳng ai nghe, vì “đây là quy định có tính pháp lệnh do Bộ Đại Học ban hành. Phải thực hiện. Miễn bàn”. Tính ra, số giờ lãng phí ở hàng ngàn sinh viên, lại kéo dài nhiều năm, là con số hổng lồ, tương đương kiếp sống của hàng trăm con người.

Các kỳ thi hết môn được tổ chức đúng như quy định. Về hình thức thi, tất cả đều là vấn đáp, vì sự gọn nhẹ của nó. Dùng vấn đáp, thầy có thể hỏi kỹ để kiểm tra sự hiểu biết thấu đáo hay hời hợt của thí sinh, căn vặn những chỗ còn nghi ngờ để yên tâm trước khi cho điểm. Tuy nhiên, do giao tiếp trực diện nên thầy cũng dễ “thông cảm” khi họ tỏ ra đau khổ và vật nài thầy châm chước. Đây là một trong những nguyên nhân khiến sự phân bố điểm thi ở trường này không theo quy luật Gauss.

Với trình độ sinh viên khi vào trường đã quá chênh lệch, học sinh trình độ dưới trung bình cũng được tuyển hết vào trường do giai đoạn này không phải thi, điều kiện để dạy tốt và học tốt quá thiếu, số thời gian học bị chia xẻ cho nhiều việc phải làm, ta có thể đoán chắc chất lượng học tập phải giảm sút - mà sự nỗ lực cao độ của cả thầy và trò chỉ bù đắp được một phần.

Tuy nhiên, căn cứ vào điểm thi hết môn, với tỷ lệ “khá, giỏi” rất cao thì “chất lượng học tập thời chiến lại cao hơn thời bình”. Kết luận này được lặp đi lặp lại vài năm sau đó, mặc dù đa số thầy “chép miệng, lắc đầu”.

Nhưng đến năm 1968, khi bản báo cáo gửi lên ban Thi Đua trung ương đã bị đồng chí trưởng ban Nguyễn Văn Tạo chất vấn: dùng phép thần nào mà được kết quả như vậy?. Từ đó, bắt đầu có sự chính thức thừa nhận chất lượng đang giảm sút. Ông Phan Huy Chữ đã dùng hình tượng “mùa màng có thất bát”, vì trước đó ông ví thi cử như “thầy trò cùng đi thu hoạch vụ mùa”. Và cũng từ đó đến nay, chất lượng luôn luôn được nhắc tới, nhưng chưa khi nào được các thầy vừa ý. Cố nhiên, bao giờ cũng vẫn có những sinh viên thật sự giỏi, nhưng tỷ lệ không cao như ở các báo cáo thành tích thi đua hồi trường sơ tán.

Sở dĩ sinh viên đạt điểm “khá, giỏi” chiếm tỷ lệ rất cao là do:
1) Các thầy không nỡ mạnh tay với những sinh viên là cán bộ đi học hoặc cử tuyển;
2) Một số thầy khi còn là sinh viên đã học hành quá chật vật, nay được làm thầy thì “thông cảm” với trò;
3) Thật sự, sinh viên rất cố gắng trong hoàn cảnh quá gian khổ, thiếu thốn, nên các thầy cũng “thương” mà chiếu cố.

Để kết luận, phải nói rằng kết quả học tập trong những năm sơ tán là do sự cố gắng cao độ của cả thầy, trò và sự phục vụ hết lòng của khối hậu cần. Nhờ vậy lẽ ra chất lượng còn giảm hơn nữa, nhưng đã níu kéo lại được ở mức có thể chấp nhận.

Về xuôi

Cứ thế, cho tới cuối năm học 1968-69, sau khi Mỹ ngừng ném bom miền Bắc, nhà trường quyết định chuyển khu sơ tán về xuôi. Việc chuẩn bị của các đơn vị đang còn lề mề, vì quyến luyến và vì “kềnh càng” đồ ăn thức đựng... thì mùa hè 1969, một cơn lốc đã phá sập hầu như toàn bộ nhà cửa tại các khối. Thế là khỏi cần phải thúc giục, mọi người đều thu vén ra về. Những cán bộ ăn cơm tập thể thì chẳng có gì cần bàn, chỉ chiếc ba lô lên vai là xong, gọn nhẹ; nhưng số có gia đình, con cái là cả một cuộc di chuyển lớn, thậm chí có người định ở lại vĩnh viễn, không về. Các phòng, ban thì lo vận chuyển nguyên, vật liệu để tiếp tục xây dựng cơ sở mới ở dưới xuôi. Thông báo đã nói rõ: chỉ về “gần” Hà Nội, chứ không phải về “hẳn” Hà Nội.

Toàn khu sơ tán đã nhổ neo rời Phú Lương, về xuôi.

Hai khối Y1 và Y2 không về Hà Nội, vì chưa có chỗ nên họ về tiếp quản những cơ sở của Viện Quân Y 103 nhượng lại thuộc hai xã Cao Viên và Thanh Cao, huyện Thanh Oai, Hà Tây, chỉ cách Hà Nội 20 km. Khối Y3 về xã Ninh Sở, huyện Thường Tín và khối K4 gồm các lớp chuyên tu, hàm thụ về một làng thuộc huyện Đan Phượng, gần cầu Phùng trên đường Hà Nội -Sơn Tây. Giữa Hà Nội và Phùng, từ ngã tư Nhổn vào, còn có cơ sở ở xã Tây Tựu của một vài bộ môn, nhưng chủ yếu dành làm địa điểm đón tiếp các khóa sinh viên mới tuyển để giữ bí mật, an toàn cho cơ sở chính.

Lại sơ tán :

Mùa xuân năm 1972, sau một thời gian ngừng 4 năm, không quân Mỹ trở lại đánh phá miền Bắc, ác liệt nhất là Hải Phòng, Hà Nội, vì vậy từ tháng 6.1972, một bộ phận của trường lại phải ngược lên huyện Thanh Thủy, tỉnh Vĩnh Phú, nay là Phú Thọ. Lần sơ tán này có tính chất tạm thời hơn nên chỉ xây dựng rất ít, chủ yếu là ở nhờ nhà dân. Cho tới sau khi Hiệp Nghị Paris ký kết được vài tháng, tới giữa năm 1973 trường mới dần dần dọn hẳn về Hà Nội, kết thúc một thời gian sơ tán cũng dài gần bằng thời gian sơ tán của nhà trường trong kháng chiến chống Pháp.

Nửa thế kỷ nữa nếu ai viết lại lịch sử trường này thì những điều mô tả dài dòng trên sẽ được thay bằng câu ngắn gọn (đại khái như): Trong thời gian Mỹ đánh phá miền Bắc bằng không quân, thầy trò trường Y Hà Nội sơ tán lên một địa điểm ở Thái Nguyên (1965-1969), tuy gian khổ, nhưngđã tổ chức cuộc sống an toàn, lạc quan và đã hoàn thành tốt nhiệm vụ. Tuy nhiên, về truyền thống thì trường này sẽ nhớ mãi các xã ở Phú Lương đã cưu mang hàng ngàn thầy trò trong 4 năm chống Mỹ, coi đó như “Chiêm Hoá thứ hai” của mình, với biết bao kỷ niệm thân thiết và biết ơn. Từ năm 1994, một đoàn các vị lãnh đạo mới của trường, thuở nào còn là sinh viên làm lán và đào hầm ở “Chiêm Hoá thứ hai”, đã về thăm lại nơi xưa chốn cũ đã xây dựng trạm xá, công trình vệ sinh, tặng bàn ghế cho trường tiểu học, trường cấp III và quần áo cho các cháu... Có thể tin rằng các thế hệ sau của trường này dù chưa hề bước chân tới Phú Lương vẫn không quên Phú Lương - như đã không quên Chiêm Hoá.

Phân tán

Như trên đã nói, trong khi các lớp thuộc hai năm rưỡi đầu đi sơ tán thì các lớp trên, từ nửa năm Y3 đến hết năm Y6, được chia làm hai bộ phận: ở Hà Nội và ra khỏi Hà Nội, nhưng tất cả dều phải phân tán.

Số sinh viên các lớp cao, do đã có năng lực phục vụ, nên không đi sơ tán, nhưng cũng không tập trung tất cả ở Hà Nội mà phân tán trong Hà Nội và xa Hà Nội (tới Thanh Hoá); nhằm các mục đích sau; 1) tránh thiệt hại lớn khi bị đánh phá; 2) có thể tham gia công tác cấp cứu trên phạm vi địa dư rộng (ứng cứu tại chỗ); 3) vẫn học tập đưọc theo chương trình định sẵn và thi lên lớp, thi tốt nghiệp đúng niên hạn. Còn nhớ, thời chống Pháp, có sinh viên vào trường 1945, đến 1955 mới có điều kiện thi tốt nghiệp, tính ra đã có 11 năm mang danh hiệu sinh viên, quá niên hạn tới 5 năm.

Địa bàn phân tán

Một phần nhỏ sinh viên ở lại Hà Nội, được gửi học tại các bệnh viện lớn, như Bạch Mai, Việt Đức và các bệnh viện nhỏ, như Xanh Pôn, Bích Câu, Mai Hương... Số lượng sinh viên ở mỗi bệnh viện chỉ 1 hay hai tổ (thay vì 5 - 10 tổ trong thời bình. Không thể để bệnh viện “trống” sinh viên, vì ngoài nhiệm vụ học tập, họ còn nhiệm vụ vừa phục vụ bệnh nhân thường ngày, vừa sẵn sàng phục vụ cấp cứu phòng không khi xảy ra sự việc. Với số lượng nhỏ và luôn luôn sẵn sàng, những sinh viên này có thể nhanh chóng sơ tán khỏi Hà Nội khi cần thiết.

Một phần đông hơn đã phân tán đến học chủ yếu tại những bệnh viện huyện đã được trường lựa chọn theo các tiêu chuẩn đáp ứng được yêu cầu của học tập: vị trí, nguồn bệnh nhân, trang bị, nơi ăn ở... Tiêu chuẩn đặt ra là 1) các bệnh viện đó không quá xa nhau (tốt nhất là theo các tuyến đường liền, không cách sông, cách cầu), để sinh viên khi cần luân chuyển địa điểm học tập thì đi lại dễ dàng; và 2) việc tiếp tế lương thực, thực phẩm thường kỳ không quá khó khăn, cách trở, trong điều kiện địch đánh phá. Ai cũng nhớ rằng toàn bộ sinh viên thời chống Mỹ được nhà nước nuôi ăn học.

Sau khi trường sơ tán và phân tán được hơn một năm, ngày 14.12 năm 1966, ký túc xá Khương Thượng bị máy bay Mỹ bắn phá; hậu quả là ba giảng đường một tầng bị sập mái, nhà ở 4 tầng bị vỡ kính, 45 gian nhà lá của cán bộ, nhân viên bị hư hại. May, không có thiệt hại về người. Do đó, sinh viên đang ở đây phải đến ở nhờ ký túc xá Kim Mã của trường Cán bộ Y tế và cả ở một số trụ sở bộ môn đang “đóng cửa” (vì người đã đi sơ tán), như Viện Giải Phẫu, 5 Quang Trung và cả 13 Lê Thánh Tông.

Tính đến 1.6.1968, số sinh viên ở lại Hà Nội là 586 người (Khương Thượng 275, Kim Mã 150, số còn lại ở các nhà tư, còn số ở tạm các bộ môn đã rút hết, trả lại trụ sở cho bộ môn), số phân tán đi các địa phương (bệnh viện các huyện) là 1.254 người.

Tại các nơi phân tán ở huyện, hồi đầu vì bản thân các thầy cô cũng có con cái, gia đình đi sơ tán, nên chỉ thay nhau đến giảng theo bài được phân công, rồi rút ngay. Cách này thầy cô cũng khổ, vì giống như đi lưu động. Sau một thời gian, phương thức phổ biến được áp dụng là một thầy, hoặc một cô, thu xếp được gia đình, gửi gắm con cái, đến phụ trách toàn bộ đợt thực tập của một tổ, thường kéo dài 1-2 tháng, đảm nhận giảng toàn bộ phần lý thuyết và hướng dẫn thực hành, kể cả thi kết thúc môn học cho một tổ sinh viên ở một bệnh viện huyện nào đó. Ngoài ra, vì có điều kiện ở lâu nên thầy hoặc cô còn tự nguyện lo luôn cả việc quản lý toàn diện sinh viên trong tổ, thay mặt nhà trường liên hệ với cơ sở đến thực tập và cả với địa phương nơi ở. Tại hầu hết các cơ sở thực tập, thầy trò đều gặp thuận lợi vì họ đều năng nổ, ngoài việc chăm nom bệnh nhân, trực đêm, sẵn sàng tham gia cấp cứu khi địch oanh tạc, còn đóng góp công sức xây dựng cơ sở về mặt tổ chức, quản lý, giúp đỡ về kỹ thuật, về thiết bị phòng xét nghiệm, bồi dưỡng cán bộ, nhân viên, coi cơ sở như nhà của mình. Như vậy, địa phương thực tế được tăng cường lực lượng kỹ thuật để mở rộng diện phục vụ, hạn chế việc chuyển tuyến trên. Đáp lại những cố gắng thiện chí ấy, các cơ sở sẵn sàng tạo mọi điều kiện thuận lợi về ăn ở, học tập, công tác cho cán bộ và sinh viên nên thầy trò lại có thêm điều kiện nâng cao chất lượng dạy và học.

Để có thể giảng toàn bộ lý thuyết, hướng dẫn lâm sàng, và làm các công việc kết hợp với địa phương, rõ ràng các thầy cô phải tự trau dồi cho đủ khả năng các làm việc đó. Thâm niên giảng dạy của họ cũng không thể quá mỏng. Các thầy ra trường 1960 (và xung quanh khoá này) là lực lượng chủ yếu đảm nhiệm công việc này, được sinh viên rất quý trọng và biết ơn. Một chi tiết đáng nói: nhiều thầy đang dạy sinh viên lúc đó là “thầy cũ” của lãnh đạo y tế huyện, nên mối quan hệ bước đầu đã rất tốt đẹp.

Theo phương thức trên, vào những năm 1969, 1970 nhà trường đã đưa trên 2.000 sinh viên về hơn 50 địa điểm; ngoài các địa điểm của hai thành phố (Hà Nội, Hải Phòng), còn rất nhiều địa điểm thuộc 5 tỉnh: Hà Tây, Hải Hưng, Nam Hà, Ninh Bình và Thanh Hóa.

Những nơi gần nhất, ngoài các bệnh viện lớn nội thành, là các bệnh viện huyện thuộc Hà Nội (như Gia Lâm, Từ Liêm, Thanh Trì), hoặc thuộc Hà Tây (như Đan Phượng, Hoài Đức)... Còn thì phần lớn trải suốt các tỉnh nói trên: Thanh Hóa (có Hoằng Hóa, Hậu Lộc, Hà Trung, là những huyện có phong trào y tế loại khá), Nam Hà (có Kim Bảng, Lý Nhân, Duy Tiên, Bình Lục, bệnh viện Nam Hà II ở Phủ Lý), Ninh Bình (có Kim Sơn, Gia Viễn, Gia Khánh, Nho Quan...), Hà Tây (ngoài những huyện gần nói trên, còn có các huyện xa hơn như Phú Xuyên, ứng Hòa, Mỹ Đức, bệnh viện thị xã Sơn Tây sơ tán về Mía), Hải Hưng (có Tứ Lộc, Yên Mỹ, Văn Giang, kể cả bệnh viện tỉnh hoặc thị xã ở nơi sơ tán như bệnh viện Dâu). Cố nhiên, rất nhiều bệnh viện huyện không ở vị trí cũ của nó mà cũng đi sơ tán: thầy và sinh viên phải đến đó.

Riêng Hải Phòng từ lâu vẫn là một cơ sở rất tốt cho học tập, được đánh giá gần tương đương với Hà Nội, lại dung nạp được nhiều sinh viên. ở nội thành, ngoài bệnh viện Việt-Tiệp là chủ yếu, còn các bệnh viện Phụ Sản, Nhi, các bệnh viện khu phố như Lê Chân, Hồng Bàng... nên nhà trường tổ chức hẳn một ký túc xá cho sinh viên Y4, Y6 xuống thực tập, lúc đầu còn ở nhờ ký túc xá trường trung học y tế, sau mua hẳn một dãy nhà lắp ghép ở khu Đồng Bớp (hiện nay đã xây dựng thành phân hiệu Đại học Y Hải Phòng). Các huyện ngoại thành của Hải Phòng như Kiến An, Thủy Nguyên, An Hải, Đồ Sơn... cũng đã từng có sinh viên đến học tập. Có thể nói đây là cách làm rất sáng tạo trong hoàn cảnh khó khăn do chiến tranh gây ra. Trường có chỗ thực tập cho sinh viên, với mô hình bệnh tật rất gần thực tế; còn cơ sở y tế mà trường chọn làm nơi thực tập cũng rất có lợi, như trên đã phân tích. Nhiều sinh viên khi tốt nghiệp được phân về những huyện tương tự (như huyện trước đó đã được thực tập) nên thích nghi rất nhanh và sớm phát huy hiệu quả. Đây không chỉ là kinh nghiệm thời chiến mà vẫn rất có ý nghĩa trong thời bình. Điều trái khoáy là thời chiến đưa sinh viên vào thực tiễn lại có vẻ dễ dàng hơn: cả về tư tưởng lẫn tổ chức.

Thực hiện giảng dạy trong điều kiện phân tán, phải nói là công sức của các thầy ỏ các bộ môn lâm sàng, trước hết là các thầy trẻ (nếu gọi 30-35 là trẻ): họ có sức khoẻ và điều kiện hơn các thầy cao tuổi, đồng thời đang độ “chín” về chuyên môn. Dẫu sao, chính gia đình và con cái họ cũng đang sơ tán khỏi Hà Nội, với trăm thứ việc phải lo toan; họ phải thu xếp cho ổn để có thể “nằm” ở bệnh viện huyện cả tháng trời. Một bộ môn giảng rất ít giờ như Thần Kinh mà thầy Nguyễn Chương (ra trường 1960) cũng phải rất nhiều lần “cắm” ở các bệnh viện huyện. Về sau thầy phải nỗ lực bản thân ghê gớm mới có được học hàm cao nhất bộ môn và được nhà trường phân công làm việc dưới quyền một học trò thầy. Sinh viên sẽ nhớ mãi và có nhiều kỷ niệm với các thầy ra trường 1958-62 là lực lượng chủ đạo trong công tác này.

Tuy nhiên chỉ có hai nơi trường “bám” lâu nhất và sinh viên đến nhiều nhất: đó là bệnh viện huyện Thường Tín, ven đường số 1; và bệnh viện thị trấn Bần Yên Nhân (Hải Hưng) trên đường 5 (nhưng lúc đó đang sơ tán về Tân An). Đây là hai bệnh viện mà trường Y có ý đồ xây dựng thành điển hình cho bệnh viện tuyến huyện vùng đồng băng - nơi đa số sinh viên tốt nghiệp trong tương lai sẽ được cử về công tác (xem phần sau).

GẮN VỚI THỰC TẾ XÃ HỘI. VỪA HỌC, VỪA PHỤC VỤ

Phục vụ sản xuất và đời sống qua nghiệp vụ y tế

Bất cứ sơ tán hay phân tán đến địa phương nào để học tập và đào tạo, thầy trò đều dành thời gian dân vận (tham gia giúp dân làm mùa, gặt hái)... Dân vận tốt là để sau đó dễ dàng tuyên truyền, giáo dục cho dân biết phòng bệnh, biết sống hợp vệ sinh; chứ không phải dân vận để mà dân vận.

Khi nào có tình hình khẩn cấp (vỡ đê, cứu hoả...) thì ai cũng phải tham gia khi được huy động. Không thể kể hết những dịp thầy trò trường này được huy động đi làm nhiệm vụ trong điều kiện khẩn cấp. Ví dụ, khi vỡ đê Cống Thôn, 200 sinh viên năm thứ sáu lập tức lên đường, dùng cơ bắp của sức trai cùng mọi người ngăn chặn dòng nước, quyết tâm hàn gắn chỗ vỡ trong thời gian ngắn nhất. Công sức bỏ ra không nhỏ, cá nhân và trường đều có thành tích. Cố nhiên, nếu trường có lực lượng lao công đi làm việc này thì hiệu suất cao hơn, mà thành tích vẫn là của trường Y.
Có lần cần tu bổ đê ở sông Đáy, “cấp trên” huy động gần sáu trăm thầy trò trường Y đi lao động “đào và đắp” mấy tháng liền, được biểu dương về năng suất, được giấy khen, được Ban chỉ huy công trường nhận xét là “bác sĩ mà chẳng khác gì nông dân” (đến nay chưa rõ thế là khen hay chê !)... Nhưng đợt lao động vất vả ấy chẳng để lại ấn tượng gì, vì nó không liên quan đến nghiệp vụ, không thu hoạch được gì đáng kể về chuyên môn; ngoại trừ những cái rất trừu tượng gán ép cho “tư tưởng”. Điều áy náy còn lại cho đến bây giờ là “cần gì phải học tới 6 năm mới làm nổi những việc đó” (!). Vậy mà những lần về huyện vài tuần vận động nhân dân làm “ba công trình” lại khiến thầy trò có những thu hoạch lớn lao và quan trọng nhất. Và cũng nhớ lâu nhất.

Đi vận động nông dân làm ba công trình được thầy trò trường Y rất coi trọng. Nói gọn, đó là: 1) làm hố xí để thanh toán thói quen rất lạc hậu là “bạ đâu ỉa đấy”, rất mất vệ sinh; và phải là hố xí hai ngăn, đúng quy cách; 2) làm nhà tắm để khỏi lười tắm, đồng thời phụ nữ có thể vệ sinh kinh nguyệt đúng cách, do đó giảm mắc các bệnh ngoài da và phụ khoa; 3) làm giếng nước hợp vệ sinh để có nước sạch sử dụng trong sinh hoạt - giảm được vô số bệnh đường tiêu hoá. Đây là cách rất tốt để sinh viên áp dụng bài học, sâu sát thực tế và rèn luyện y đức.

Ba “công trình” té ra chỉ gồm “hố xí, nhà tắm và giếng” nhưng sinh viên phải thuộc biết bao điều đã học trong sách, và khó nhất là vận dụng sáng tạo chúng cho từng vùng quê, từng gia đình, từng thửa vườn. Hồi đó đồng bào nông dân ta rất nghèo, tập quán rất lạc hậu; họ chưa thấy cần 3 thứ trên, vì nó chẳng sinh ra chút “của cải vật chất” nào; sinh viên phải làm thế nào tuyên truyền giáo dục cho từng gia đình hiểu ra (công sức bỏ ra và kinh nghiệm thu về cũng đáng là “công trình” vì mỗi gia đình một hoàn cảnh, một lý do để từ chối). Đến khi họ nghe ra, muốn làm thì nhiều nhà không có tiền để làm. Đối với họ, những thứ đó cũng tốn tiền ngang với những “công trình”. Phải tìm ra giải pháp phù hợp nhất cho họ. Họ muốn đào giếng, phải chỉ cho họ đào ở đâu thì hợp vệ sinh (mỗi nhà mỗi hoàn cảnh) và ở đâu thì có nước. “Đất nhà tôi chật hẹp thế này thì nên đặt hố xí ở đâu”. Giao chỉ tiêu loại này cho sinh viên thì họ khó “gặm” gấp trăm lần so với khoán cho họ phải đào bao nhiêu mét khối đất.

Tại Phú Lương, nơi trường sơ tán, trường có nghĩa vụ tuyên truyền giác ngộ để dân sống hợp vệ sinh. Cuối cùng, khi trường rút về xuôi, huyện đã trở thành nơi có phong trào vệ sinh tiên tiến của tỉnh Bắc Thái. Công sức bỏ ra của thầy trò không nhỏ. Đó là cách học tốt nhất. Và đó cũng là cách trả ơn dân tốt nhất. Với các tỉnh đồng bằng, ở đâu có yêu cầu dứt điểm ba công trình cũng được trường hết sức quan tâm, khiến công việc này của y tế và chính quyền địa phương rất thuận lợi. Để cuộc vận động nếp sống vệ sinh duy trì được lâu dài, trường còn khuyến khích các đơn vị kết nghĩa với các hợp tác xã nông nghiệp, các xí nghiệp, nông trường. Nhiều bộ môn đã kiên trì gắn bó với các cơ sở kết nghĩa 4 - 5 năm liên tục sau khi đã chấm dứt chiến tranh, như Ngoại, Nhi, Vệ sinh - Dịch tễ...

Tăng cường tuyến y tế địa phương, phục vụ cấp cứu phòng không

Thế mạnh của trường là đào tạo bác sĩ phù hợp nhất để họ giải quyết tốt các việc trên. Trường không thể làm thay việc đó cho cả ngành y tế. Tuy nhiên, bản thân việc phân tán các tổ sinh viên về trên 50 bệnh viện huyện để học tập chuyên môn, có thầy đi kèm, đã có hai tác dụng: 1) hỗ trợ y tế địa phương về chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ; 2) đồng thời tạo ra lực lượng tại chỗ sẵn sàng ứng cứu nếu xảy ra oanh tạc. Có huyện, chỉ nhờ sự có mặt của thầy trò mà tất thảy nạn nhân chiến tranh được giải quyết tại chỗ, không phải chuyển lên tuyến cao hơn. Lực lượng sinh viên còn rất đắc lực trong huấn luyện cấp cứu phòng không và tuyên truyền vệ sinh phòng bệnh tới tận màng lưới y tế các xã trong huỵện.

Ngoài hình thức trên, trường còn chủ động cử các đoàn lớn, gồm sinh viên sắp ra trường, có thầy giỏi hướng dẫn, tới những nơi trọng điểm đánh phá của máy bay Mỹ trong thời gian nhiều tháng để làm công tác thường trực cấp cứu, đồng thời học tập trong thực tế.

Liên tục từ 1965 đến 1972, thầy trò trường Y đã đặt chân đến rất nhiều huyện, xã (không tính xuể) trên toàn miền Bắc; trong dó chủ yếu là 10 tỉnh trọng điểm (khu Vĩnh Linh và các tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa, Ninh Bình, Nam Hà, Hà Tây, Vĩnh Phú, các thành phố Hải Phòng, Hà Nội), đến các tuyến đường số 1, 5 để cùng với các cơ quan y tế địa phương cấp cứu nạn nhân do bom đạn Mỹ. Ngay từ tháng 2.1965, trường đã gửi vào Vĩnh Linh và Quảng Bình trên 200 sinh viên Y6 đa khoa sắp tốt nghiệp, cùng nhiều giáo viên có kinh nghiệm chuyên môn chia nhau xuống tận các thôn, xã, vừa huấn luyện, vừa xây dựng và củng cố cơ sở y tế để nâng cao trình độ phục vụ sức khỏe nhân dân, đồng thời đủ khả năng đối phó với hậu quả chiến tranh phá hoại.
Năm học 1966-1967 có 163 sinh viên Y5 (khóa 1962-1968) rời trường đi thực tế “vừa học vừa làm” tại Nam Hà và Ninh Bình suốt từ 10.5 đến 16.9.1967. Đoàn đi Nam Hà do cô Dương Thị Cương lãnh đạo gồm 60 sinh viên Y5 Đa khoa 1 (với hai sinh viên phụ trách lớp là Nguyễn Huệ và Nguyễn Bá Nghị), chia nhau đi làm việc tại bệnh viện Nam Hà 1 (Nam Định) và bệnh viện các huyện Duy Tiên, Nghĩa Hưng. Hải Hậu. Tại Ninh Bình. Lớp Y5 Đa khoa 2 gồm 60 người do thầy Nguyễn Đoàn Hồng lãnh đạo (với hai sinh viên phụ trách lớp là Hồ Ngọc Kê và Phạm Nguyên Tiêu), chia nhau làm việc ở bệnh viện tỉnh và bệnh viện các huyện Gia Khánh, Yên Khánh, Nho Quan. Lớp Y5 chuyên khoa A2 với 43 người thì chia nhau đi hai nơi: Kim Bảng (Nam Hà) và Thường Tín (Hà Tây). Cùng đi với đoàn 163 sinh viên này có hơn chục thầy của các bộ môn Nội, Ngoại, Sản, Nhi, Đông Y, Vệ sinh Dịch tễ, Tổ chức Y tế. Trên thực tế, các đoàn không chỉ “học”, “làm” mà còn “dạy”. Phụ trách bệnh viện huyện vẫn chỉ là cựu sinh viên của trường, nay chẳng mấy khi có thầy về tận nơi, tội gì chẳng nhờ thầy “dạy” cho. Nhiều khi, nhân thể, họ dự lớp với đàn em họ sắp ra trường.
Thành tích cụ thể có thể thống kê được (mổ bao nhiêu, cứu sống bao nhiêu), nhưng bài học vô giá là đúc rút kinh nghiệm (hay gặp loại vết thương nào, xử trí ra sao thì phù hợp nhất, tổ chức sơ cứu và chuyển thương thế nào...); đồng thời dào tạo cán bộ y tế tại chỗ. Điều này trường không bao giờ quên làm, do vậy thầy, trò và địa phương đều có lợi trong giảng dạy và thực hành sau này.

Chưa kể rất nhiều các đoàn nhỏ nhưng trình độ chuyên môn cao, với nhiệm vụ hỗ trợ và đào tạo kỹ thuật cho địa phương.

Năm học 1965-1966, một đoàn 3 người, có 2 bác sĩ, trong đó có thầy Trần Quán Anh bộ môn Ngoại, đã vào làm việc tại bệnh viện tỉnh và bệnh viện thị xã Quảng Bình gần 3 tháng (23.10.1965 - 15.1.1966). Cuối 1966, đến đầu 1967, một đoàn gồm 20 bác sĩ ra trường 1959-1962 (Nguyễn Văn Xang, Nguyễn Hữu Hồng, Nguyễn Ngọc Lanh, Phạm Phúc Sinh....) đã “cắm” ở Nghệ An hai tháng làm công tác cấp cứu và huấn luyện cho y tế cơ sở, lúc đó phải huấn luyện cả chống vũ khí vi trùng và hoá học... Nhưng nhiệm vụ cao nhất được Bộ giao là phản ánh tình hình y tế địa phương và đề xuất ý kiến với Bộ. BS trưởng ty Y tế khi đó là ông Quới, một cái tên rất dễ nhớ. Có lần, bộ trưởng Phạm Ngọc Thach đi dọc khu 4 đã rẽ vào làm việc với Ty và gặp gỡ đoàn BS trên.

Các thầy có tuổi cũng “đòi” vào khu 4. Trong tháng 7.1967, một đoàn các thầy chủ nhiệm và phó chủ nhiệm bộ môn, cả thảy 10 người - toàn xấp xỉ tuổi 50, có thầy đã quá 60 - do thầy Thẩm Trọng Tảo, phó hiệu trưởng dẫn đầu, đã cùng nhau mang xe đạp lên tầu hỏa đi đến Ninh Bình, rồi từ đó đạp xe vào Thanh Hóa đi thực tế trong vòng nửa tháng. Các thành viên là: GS Đặng Vũ Hỷ, chủ nhiệm bộ môn Da Liễu; GS Đinh Văn Thắng, chủ nhiệm bộ môn Phụ Sản; BS Hoàng Sử, chủ nhiệm bộ môn Y vật lý-X quang; BS Nguyễn Quốc ánh, chủ nhiệm bộ môn Tinh Thần Kinh; BS Trịnh Ngọc Phan, chủ nhiệm bộ môn Truyền Nhiễm; BS Võ Tấn, phó chủ nhiệm bộ môn Tai Mũi Họng; BS Bửu Triều, phó chủ nhiệm bộ môn Ngoại; BS Phạm Khuê, phó chủ nhiệm bộ môn Nội. Anh Nguyễn Vi Khải, kỹ thuật viên bộ môn Giải Phẫu đi theo "hộ tống" các thầy. Đưa các thầy cỡ này vào tuyến lửa không phải để các thầy “nếm mùi bom đạn” hay “rèn luyện tư tưởng” mà mục đích chính của Trường giúp các thầy sẽ có thêm thực tế để cải tiến giảng dạy.

Ban ngày, đoàn đến thăm các cơ sở y tế địa phương tìm hiểu tình hình chuyên môn và tổ chức, góp ý giải quyết khó khân. Chiều tối khi không còn máy bay đe doạ, lại đạp xe đến địa phương khác. Trời khuya, đường nông thôn gập ghềnh, dùng đèn bấm phải chụp vải xanh che bớt sáng mà vẫn còn bị người đi đường kêu la than phiền khi có tiếng máy bay xa. Mắt không còn được tinh tường nên đi đêm hay bị ngã xe, đứt dép, phải mò dép rơi xuống hố cá nhân, núp tránh máy bay khi trời còn sớm... nhưng tất cả các thầy đều rất vui vẻ, lạc quan, trêu chọc nhau, trước khi ngủ còn kể chuyện tiếu lâm như hồi còn trai trẻ.

Các năm tiếp sau đó, năm nào cũng có các lớp đi thực tế như vậy.

Như năm học 1968-1969, một đoàn 146 sinh viên Y6 (khóa 1963-1969) trước khi thi tốt nghiệp đã đi thực tế 7 tháng trời, từ 1.11.1968 tới 30.5.1969 tại các vùng chiến sự ác liệt nhất ở miền Bắc. Thời gian hơi dài, có lẽ dài nhất trong các đợt đi thực tế và gần bằng một năm học, nhưng như thế mới đạt phương châm “vừa học, vừa làm”, thực hành được nhiều. Nhớ lại, trong số 52 sinh viên lớp Đa khoa (2) và Chuyên khoa sơ bộ (2) ấy có các anh, chị Lê Ngọc Trọng, Tôn Thất Bách, Bùi Tố Nga... Trong số 47 người đi Quảng Bình có Võ Lương Mưu, Nguyễn Quí Sơn (lớp phó), Hạ Bá Miễn (nay làm ở bệnh viện Hữu Nghị). Còn 46 sinh viên lớp Đa khoa 1 “cắm lâu dài” lại Vĩnh Linh là lớp của Hồ Xuân Nghinh, Trần Văn Thạch, Nguyễn Quang Phúc...; vân vân...
Nhiều địa phương rất hoan nghênh các đoàn của trường, kể cả yêu cầu ở lại thêm một thời gian.
Tuy nhiên, điều rút ra là đi thực tế như vậy, nếu không có mục tiêu rõ ràng, tổ chức và chuẩn bị kém chu đáo, chưa tìm hiểu kỹ tình hình và nhu cầu nơi đến, thì có thể gây những lãng phí, do hiệu suất phục vụ không cao, chồng chéo, kể cả không sát yêu cầu địa phương. Có người với tâm lý đi để chứng tỏ mình đã có mặt ở “tuyến lửa”, như cái vốn chính trị ban đầu. Có người khi về Hà Nội chỉ chủ yếu khoe đã nhìn thấy tên lửa Mỹ, bom ném, lửa cháy... vì họ hiểu sai mục tiêu của chuyến đi. Rõ ràng, họ thu được rất ít kết quả. Nếu số này hơi đông thì chuyến đi coi như thất bại.

Năm 1967 cũng một mốc ấn đáng ghi nhớ của nhà trường vì nó là năm thầy chủ nhiệm bộ môn Ký Sinh Trùng và bộ môn Sinh Học Đặng Văn Ngữ vào miền Nam nghiên cứu chống bệnh sốt rét và bị trúng bom B52 rải thảm nên đã hy sinh tại chiến trường.

Trong đợt phục vụ 12 ngày đêm trận "Điện Biên phủ trên không" tháng 12.1972, lực lượng tham gia tại Hà Nội là gần 100 bác sĩ có kinh nghiệm và trên 500 sinh viên Y4, Y6 tại các bệnh viện Việt-Đức, Bạch Mai, Xanh Pôn, Đống Đa, Mai Hương và trạm vận chuyển cấp cứu 05. Tại Hải Phòng có 5 cán bộ và 83 sinh viên Y4, Y6 chủ yếu ở bệnh viện Việt Tiệp và bệnh viện khu phố Lê Chân. Trong thời gian này còn có đoàn sinh viên Y5 đang phục vụ cấp cứu phòng không tại cục vận tải đường biển. Cuối tháng 11-1972, sau khi thi xong Y5, toàn bộ sinh viên khoá 1967-1973 lên đường đi phục vụ giao thông vận tải trên các tuyến đường bộ, đường sắt, đường thuỷ từ Lạng Sơn cho đến Vĩnh Linh. Sau đợt phục vụ này, Ban Chấp Hành TW Đoàn đã tặng hai cờ Nguyễn Văn Trỗi cho Đoàn Trường ta và chi đoàn Y5D về thành tích xuất sắc. Tại Hà Tây có 6 cán bộ và 162 sinh viên Y5 chi viện cho các huyện Quốc Oai, Thạch Thất, ứng Hòa, Phúc Thọ, Đan Phượng. Đấy là chưa kể lực lượng hơn 1.000 cán bộ, sinh viên đã bố trí sẵn tại các huyện trên và các địa phương khác của tỉnh.

Riêng ở Hà Nội, tại bệnh viện Việt Đức có 19 bác sĩ của trường chia làm 3 kíp thường trú đã cùng với 117 sinh viên phục vụ suốt ngày đêm từ 18 đến 30.12.1972. Chỉ riêng đêm rạng ngày 27.12.1972 khi địch ném bom phố Khâm Thiên, trong khoảng 1 giờ đầu tiên đã có tới 85 nạn nhân đã được đưa vào viện, sinh viên thường trực đã khiêng cáng vào phòng chọn lọc, chụp X quang, khiêng lên nhà mổ, rồi lại từ nhà mổ về phòng hậu phẫu. Kíp trực của các thầy với 8 bàn mổ, đã phẫu thuật liên tục từ 1 giờ đến 4 giờ sáng được 21 trường hợp trên 8 bàn mổ. Trưa 29.12, máy bay Mỹ ném bom khu Mai Hương, kíp mổ đó đã lại giải quyết 29 trường hợp nặng trên 11 bàn mổ từ 14 đến 17 giờ. GS Tôn Thất Tùng nhận định: nếu không có lực lượng sinh viên thì sẽ bế tắc trong chuyển thương và chăm sóc ban đầu. Cố nhiên, không có các thầy thì tình hình còn xấu hơn nữa. Trong đợt ném bom ác liệt này của địch, trường đã kịp đưa các thầy lão thành và cao tuổi ra khỏi Hà Nội, chỉ riêng thầy Tùng ở lại, vì vị trí chiến đấu của thầy là ở đây.

Trường cũng có nhiều thiệt hại khi bệnh viện Bạch Mai trúng bom .

Đó là lúc 4 giờ sáng ngày 22.12.1972.
Bác sĩ Nguyễn thị Giỏi, cán bộ bộ môn Da Liễu cùng 6 sinh viên trong kíp trực đêm đó đã hi sinh, gồm: sinh viên Y4 có các anh Trần Hữu An, Phạm Vy (con độc nhất của một liệt sỹ), Đặng Văn Nghiệp, Đặng Xuân Hòa, Nguyễn Văn Điền, sinh viên Y6 có chị Đinh Thị Thúy. Ngoài ra còn một bác sĩ mới tốt nghiệp chờ sáng hôm sau đi nhận công tác là anh Lâm Duy Kế (cùng lớp với bác sĩ Trần Văn Tài, một thời gian dài thuộc phòng Giáo vụ, nay phụ trách Ban in) cũng hy sinh. Các thầy và sinh viên có mặt tại bệnh viện đã phối hợp với bác sĩ và nhân viên bệnh viện khẩn trương cứu sập, cấp cứu nạn nhân suốt ngày hôm đó. Từ đêm hôm sau, trường đã rút các sinh viên Y3 về cơ sở 11 Lê Thánh Tông.

Cuộc cứu sập :

Sáng 22.12.1972, trời rét như cắt ruột. Đội cấp cứu khẩn trương làm nhiệm vụ tại đầu nhà B bị đánh sập. Phải huy động cả kích ô tô, bình dưỡng khí. Sau nhiều cố gắng, mới bới được một khe hở mà chỉ có thầy Chu Văn ý, tuy nhỏ người vẫn phải cởi bỏ áo bông mới chui lọt. Thầy cố gắng bò vào, sau mỗi 10 phút lại phải lui ra thở vì thiếu không khí. Người ta đã đưa được ống dẫn ô xy và sữa vào cho chị Thúy và nghe thấy tiếng kêu yếu ớt của chị. Đến nửa buổi sáng thì đào được vào nhưng thật bất hạnh, do chệch hướng nên đã đi vào bên này tường, trong khi Thúy nằm bên kia tường. Công việc hầu như phải làm lại từ đầu. Đến trưa mới mang được ra, đúng lúc Thúy trút hơi thở cuối cùng. Có người bị giường sắt đè không rút chân được, đội cứu sập phải luồn kích ô tô để nâng chiếc giường lên một chút mới mang được người ra.. Xin nhớ rằng tất cả công việc khẩn trương và đồng thời phải rất thận trọng để khỏi gây thêm nguy hiểm cho nạn nhân, được tiến hành trong suốt buổi sáng, dưới điều kiện luôn bị địch uy hiếp đánh phá trở lại và trời rất rét.

Khi các khu dân cư Phương Liệt, đường Láng, Khâm Thiên, Mai Hương bị đánh phá, lực lượng cán bộ và sinh viên trường đã luôn luôn có mặt ngay từ những phút đầu, cùng với y tế cơ sở và công an địa phương tổ chức cấp cứu. ở Phương Liệt và đường Láng, suốt cả đêm tổ 13 lớp Y4D đến bới sập, cấp cứu, chuyển nạn nhân về bệnh viện, ngày hôm sau lại tiếp tục công việc Khâm Thiên. Đêm 26.12.1972 tại ngõ chợ Khâm Thiên, TS Phạm Phúc Sinh, cán bộ bộ môn Vi Sinh cùng với bao nhiêu người dân khác đã là nạn nhân của bom B52.

Tại các điểm bị đánh phá khác, dứt loạt bom là đã có những đội cấp cứu của sinh viên (tăng cường cho trạm vận chuyển cấp cứu 05) đến ngay tại chỗ tìm bới nạn nhân, sơ cứu, phân loại và chuyển về đúng các tuyến.

Tại Hải Phòng, cán bộ và sinh viên nhà trường đã bám trụ ở bệnh viện Việt-Tiệp (tổ 12 Y6C) và bệnh viện khu phố Lê Chân (tổ 16 Y4D). Có lần bom Mỹ ném cách hầm bệnh viện Việt-Tiệp có 30 mét, cán bộ nhà trường cùng bác sĩ chủ nhiệm khoa Ngoại đảm đương hầu hết các trường hợp lớn nhỏ để các bác sĩ bệnh viện đi tăng cường cho các tuyến dưới. Có lần họ thức suốt 3 đêm liền, mổ 15 trường hợp, trong đó có tới 7 ca sọ não.

Cố giáo sư Tôn Thất Tùng hồi đó phát biểu với phóng viên báo Nhân Dân ngày 3.1.1973: "Lực lượng sinh viên trường Đại học Y khoa có một vai trò quyết định trong việc góp phần hoàn thành nhanh chóng các khâu mổ xẻ...". Kết thúc đợt phục vụ chiến đấu 8 năm ấy, nhà trường được tặng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, riêng bộ môn Ngoại được thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Hai. Nhiều cán bộ, sinh viên được bằng khen của Bộ Y Tế hoặc giấy khen của các cơ quan y tế địa phương, chi đoàn sinh viên Y4C được Trung ương Đoàn tặng bằng khen.

Ngày 27.1.1973, hiệp định Paris được ký kết, quân Mỹ phải rút khỏi Việt Nam. Cơ quan T72 được thành lập để đón nhận hơn 3.000 đồng bào và chiến sĩ ta bị địch bắt giữ, nay trao trả ở Quảng trị.

Trường ta có hai đoàn, đoàn 1 vào Thạch Hãn, Quảng Trị từ tháng 1 năm 1973 đến 30 tháng 3 năm 1973 gồm các thầy cô Nguyễn Xuân Thụ (Thụ A ) Trưởng Đoàn, Nguyễn Văn Xang Bí Thư Chi Bộ, Nguyễn Khánh Trạch, Phạm Thị Minh Đức, Phan Sỹ An, Nguyễn Vi Khải, Nguyễn Phương Mỹ, Hoàng Công Đắc ... và hai lớp sinh viên Y5 thực hiện nhiệm vụ đón tiếp, chăm sóc sức khoẻ và vận chuyển tù nhân được trao trả từ Thạch hãn ra Sầm Sơn. Có một sự kiện xảy ra là trong số các tù nhân được trao trả, có 5 người từ chối ra miền Bắc để ở lại miền Nam vì lý do hoàn cảnh gia đình. Nếu họ ở lại thì sẽ gây ảnh hưởng lớn đến uy tín miền Bắc XHCN. Ban Chỉ Huy chiến dịch đã giao nhiệm vụ này cho 5 thành viên trong đội cấp cứu đặt tại nơi trao trả. Thông qua công tác chăm sóc sức khoẻ 5 người này, dưới sự kiểm soát rất chặt chẽ của an ninh nguỵ quyền Sài Gòn và đội ngũ nữ Phượng Hoàng, các thành viên của đoàn đã thuyết phục 5 tù nhân này tự nguyện ra bắc. Đây là một thắng lợi mang tính chất chính trị quan trọng đã được Ban Chỉ Huy chiến dịch ghi nhận. Đoàn thứ hai gồm các thầy Đinh Văn Tài, Nguyễn Thản, Vũ Duy San, Nguyễn Ngọc Lanh... cùng lớp Y5D đã được cử đi Quảng trị để đón tiếp, chăm sóc và phân loại sức khoẻ. Khi anh chị em tù binh do địch trao trả được chuyển về Sầm Sơn (Thanh Hóa), nhà trường đã cử hàng chục cán bộ và hàng trăm sinh viên các lớp Chuyên tu 1 và Y5 tham gia công tác này từ đầu tháng 2.1973 và kết thúc vào tháng 8.1973, được Ban đón tiếp của Quảng Trị đánh giá rất cao (trong thư gửi Bộ Y Tế).

Chống địch và khắc phục hậu quả lũ lụt

Công tác thực tế này thuộc loại rất đột xuất của thầy trò nhà trường, không bao giờ được ghi trước trong kế hoạch và dự kiến, nhưng lại phải được đáp ứng rất khẩn trương và kịp thời. Lũ lụt dài ngày là điều kiện rất thuận lợi để suy giảm sức khoẻ, các bệnh mạn tính trở thành bột phát. Bài học này nhiều dịp sinh viên được kiểm nghiệm và được áp dụng khi trường luôn luôn bám sát thực tế xã hội.

Mùa lũ năm 1969 xảy ra khi trường chưa chuyển xong từ Phú Lương về xuôi. Nước sông Hồng và sông Đuống lên rất nhanh và rất to. Từ Thái Nguyên về, qua cầu Đuống có thể trực tiếp nhận ra được cường độ lũ: cây cầu, dù đã có đoàn tầu chở đá chặn trên suốt chiều dài, vẫn rung lên bần bật với dòng lũ mấp mé mặt cầu; nước xô vào thành cầu tung lên mù mịt như mưa rào xối xả. Hơn 1.000 cán bộ và sinh viên tổ chức thành từng đoàn khẩn trương chi viện cho các cơ sở y tế Hà Nội, Hải Phòng, Hà Tây, Thái Bình, Hải Hưng, Nam Hà, ngày đêm phục vụ công tác chống lụt của các địa phương. Đợt lũ chưa qua lại tiếp một dịch sốt xuất huyết (đúng như điều các thầy đã dạy cho sinh viên) trên một vùng rộng lớn với hàng chục ngàn bệnh nhân, khiến nhà trường phải dồn hầu như toàn bộ lực lượng để đối phó, cả với con lũ và cả với vụ dịch này.

Hai năm sau lại xảy tiếp trận lụt lịch sử năm 1971. Ngay ngày 22.8.1971, khi có yêu cầu, trường đã cử 312 cán bộ và sinh viên tham gia lao động hộ đê bằng cơ bắp của lớp trẻ. Nhưng việc chủ yếu của trường là bảo vệ sức khoẻ cho những người đang trực tiếp vật lộn với thuỷ thần. Do vậy, theo yêu cầu, trường đã thành lập 12 đội ứng cứu gồm 60 sinh viên Y5 và 8 thầy để Bộ Y Tế có thể điều động “khẩn” tới những nơi cấp bách nhất. Ngày 23.8.1971, khi vỡ đê Cống Thôn, 200 sinh viên Y6 đã lập tức lên đường tham gia hàn gắn. Tuần tiếp theo, một đoàn 500 sinh viên và cán bộ lên đường đến các nơi úng lụt ở Hà Nội, Hà Tây, Vĩnh Phú, Hải Hưng, Tuyên Quang. Bước sang đợt khắc phục hậu quả lũ lụt, trường đã huy động một lực lượng tới 2.834 người, gồm 2.550 sinh viên và 284 cán bộ đi phục vụ ở 2 thành phố, 5 tỉnh, 44 huyện, 2 khu phố, 2 thị xã, 5 nhà máy. Tập trung nhiều nhất là ở Hà Bắc và ở hai xã bị nặng nhất. Tại đây, ngoài việc ngày đêm lênh đênh trên thuyền chèo đi khắp các xóm thôn đang ngập sâu trong nước, giải quyết hậu quả, châm sóc sức khỏe trẻ em, phụ nữ, người già, điều trị và tiêm phòng những loại dịch thường vẫn xảy ra sau những trận lụt lớn, cán bộ và sinh viên còn dành khá nhiều thời gian cùng với y tế địa phương tiến hành một số công trình nghiên cứu dự đoán về qui luật diễn biến của dịch và tình hình sức khỏe nhân dân, nhằm giúp cho ngành y tế có cơ sở chuẩn bị tốt hơn trong những tình huống đột xuất tương tự.

Trong thời gian chống lụt, nhà trường đã có một tổn thất lớn. Khi lụt xảy ra, ông Phan Huy Chữ, phó Hiệu trưởng nhà trường, Bí thư Đảng ủy, đang đi nghỉ tại Quảng Ninh đã vội vã trở về, dùng xe máy riêng đi kiểm tra, đôn đốc các đoàn công tác. Do liền nhiều ngày quá sức, với cơn cảm lạnh vì đợt gió mùa sớm kéo theo mưa tràn về đột ngột, bệnh phổi mạn tính của ông chuyển biến trầm trọng và ông đã không qua khỏi. Là một trong những người đóng góp nhiều công sức trong việc xây dựng và lãnh đạo Đảng bộ và chính quyền nhà trường suốt 14 năm với cương vị bí thư, ông có khả năng thay mặt Đảng, tiếp xúc và làm việc được các nhân sĩ trí thức (với cụ Hiệu trưởng và các giáo sư, trí thức lớn tuổi ngoài Đảng). Nhưng ông lại từng nói: vấn đề là phải kết nạp thật nhiều trí thức tiên tiến vào đảng, chứ không phải cử đảng viên “làm việc được” với trí thức. Ông xứng đáng với tâm huân chương Độc Lập hạng II.

CẢI TIẾN VÀ PHÁT TRIỂN ĐàO TẠO

Hoàn chỉnh mục tiêu đào tạo đại học

Mẫu người bác sĩ muốn đào tạo đã được nghĩ đến và đặt ra ngay từ 1959 với cách nói khiêm tốn hồi đó là những "yêu cầu đào tạo".

Mầy mò thực hiện, bổ khuyết, cho đến 1962, đã hình thành dần dáng dấp một mục tiêu đào tạo. Nhưng cũng phải tới tháng 6.1966, thông qua Đại hội Đảng bộ lần thứ X của trường (ngày 6, 7 và 8.6.1966), mục tiêu đào tạo này mới lần đầu được hoàn chỉnh.

Cụ thể, có những điểm quan trọng như ..."người bác sĩ phải được đào tạo một cách toàn diện, nghĩa là về cả ba mặt tư tưởng chính trị, trình độ chuyên môn và mức độ sức khỏe; đối trượng chủ yếu vẫn là đào tạo bác sĩ đa khoa là chính mà địa chỉ phục vụ chủ yếu vẫn là tuyến huyện.
Còn về chuyên môn, yêu cầu phải có một trình độ khoa học cơ bản, y học cơ sở, ngoại ngữ, đủ để sau khi ra trường có thể tiếp thu đựơc y học hiện đại, tự học vươn lên và phải có khả nâng thực hành về các mặt vệ sinh phòng dịch, nghiên cứu Đông y và kết hợp Đông-Tây y, về tổ chức quản lý, Nội, Ngoại, Sản, Nhi, cấp cứu phòng không, cấp cứu Ngoại-Sản".

Năm 1966, tuyến tỉnh đã tạm đủ bác sĩ (nếu thiếu, thường đó là bác sĩ chuyên khoa), trong khi nhiều huyện chưa có bác sĩ nào thì bác sĩ đầu tiên về huyện ắt phải là bác sĩ đa khoa và nhu cầu là rất lớn. Do vậy, việc xác định mục tiêu là đào tạo “bác sĩ chung” (chưa chuyên khoa) là một phương hướng rất đúng, thể hiện cách nhìn toàn diện và chú ý đến lâu dài. Nhưng trong thực tế vẫn luôn luôn cần một số bác sĩ chuyên khoa để bổ sung cho tuyến trung ương và tuyến tỉnh (ngoài Nội, Ngoại, Sản, Nhi), vậy nên bên cạnh bác sĩ đa khoa, vẫn phải dành một số cho đào tạo chuyên khoa sơ bộ (trong đại học) để đáp ứng những nhu cầu cấp thiết của đời thường như răng, mắt, tai mũi họng, lao, truyền nhiễm, ung thư, v.v...

Ngày nay, vấn đề giải quyết rất đơn giản bằng cách đào tạo đại trà đa khoa, sau khi ra trường sẽ đào tạo tiếp chuyên khoa theo nhu cầu. Đó là vì bác sĩ cho huyện đã tạm đủ. Nhưng cách đây 30-40 năm, lại là thời chiến, không thể làm như vậy, vì bác sĩ còn quá thiếu, không thể tốn thêm tới 1 năm sau khi đã tốt nghiệp đại học để đào tạo chuyên khoa. Chuyên khoa phải học “trong” đại học - gọi là chuyên khoa sơ bộ - chứ không thể học sau khi tốt nghiệp. Vậy thì tỷ lệ bao nhiêu là hợp lý giữa đa khoa và chuyên khoa sơ bộ; đó là vấn đề luôn luôn được đặt ra.

Từ thực tế này, năm nào cũng có sự cân nhắc về tỷ lệ đa khoa và chuyên khoa, trong đó nhà trường phải nhân nhượng trước nhu cầu bức bách ấy, như thấy rõ trong bảng theo dõi tỉ lệ phân khoa các khóa học từ 1961 đến 1982.

Qua 16 khóa học thì có đến 8 khóa tỉ lệ đa khoa chỉ chiếm 30-40%, có 4 khóa tỉ lệ này từ 55 đến 65% và chỉ có 4 khóa là đạt được trên 80-90%. Chính sự đấu tranh giằng co này là biểu hiện của mâu thuẫn giữa "trước mắt và lâu dài", một trong hai mâu thuẫn kinh niên lớn nhất của chiến lược đào tạo.
Hồi đó là chiến tranh, rất khó dự báo nhu cầu chuyên khoa và đa khoa của ngành dân y. Không thể điều tra khoa học nhu cầu đa khoa và chuyên khoa để có những dự báo sát hợp, vì sự trưng dụng bác sĩ mới tốt nghiệp (thậm chí cả sinh viên lớp cuối) cho nhu cầu quân đội và miền Nam là rất lớn và nhiều khi đột xuất. Trên thực tế, số người phải chuyển đổi chuyên khoa là khá lớn.

Với con mắt hôm nay, người ta dễ dàng nhận định nội dung của các mục tiêu cụ thể đề ra là quá cao, không thực tế. Ví dụ, đòi hỏi bác sĩ thời chiến khi ra trường phải thành thạo ngoại ngữ để (khi về huyện) có thể tự học vươn lên và phải làm được 4 khoa (đa khoa).

Ở nhiều điểm, nó là kỳ vọng hơn là những kỹ năng mà bác sĩ huyện phải làm được. Mục tiêu Chính trị-Tư tưởng khá trừu tượng tuy viết rất dài (...”phải là người bác sĩ xã hội chủ nghĩa”) chỉ liên quan lập trường, nhưng không có điểm nào liên quan y đức. Tuy nhiên, đây là mục tiêu sớm nhất được đề ra ở một trường duy nhất trong toàn ngành đại học, do sự bức xúc của chính trường đó.
Khi một bác sĩ đầu tiên về huyện thì ở huyện đó đã có các y sỹ chuyên khoa Răng, Mắt, Tai-Mũi-Họng, Sản, Nhi... nếu có gì “bí” nhất nhất họ sẽ xin quyết định tối hậu của bác sĩ. Vậy thì, trường phải đào tạo bác sĩ như thế nào? Chính suy nghĩ đó đã khiến các bậc tiền bối viết mục tiêu như ta đã thấy. Trên thực tế, khó có bác sĩ đa khoa nào dám đưa ra “quyết định tối hậu” khi y sĩ chuyên khoa đã bó tay (trừ quyết định “kính chuyển” bệnh nhân lên tỉnh). Một thầy ở bộ môn SLB khi góp ý vào chương trình đào tạo bác sĩ huyện, còn đề nghị dạy kỹ cho họ môn Giải Phẫu Bệnh, cách mổ xác, cách xem đại thể... để sau này bác sĩ đa khoa ở huyện có thể tự mổ xác bệnh nhân (để tự rút kinh nghiệm chẩn đoán của mình). Đó là một biện pháp giúp họ “tự học vươn lên”. May, trường không đưa đề nghị này vào mục tiêu.

Xây dựng điển hình tuyến huyện

Vì địa chỉ phục vụ chủ yếu của bác sĩ ra trường hồi đó là tuyến huyện mà "tuyến 3" này lại có vị trí rất quan trọng trong hệ thống tổ chức y tế thời chiến nên qua nhiều năm liên tục, nhà trường đã dày công tìm kiếm và xây dựng một cơ sở y tế huyện làm nơi thực tập tổng hợp vùng nông nghiệp cho sinh viên. Nhằm mục đích đó, nhà trường đã tổ chức khảo sát nhiều huyện đồng bằng, để xây dựng một bệnh viện huyện tiêu biểu. Sinh viên thực tập ở đó sẽ nhanh thích nghi khi được phân công sau tốt nghiệp. Có nơi, cơ sở y tế rất tốt nhưng lại quá xa hoặc cách sông, cách phà; những nơi gần thì cơ sở và phong trào quá yếu, rất khó vực lên; hoặc sản xuất và kinh tế ở đó nhẹ về nông nghiệp mà nặng về chạy chợ, làm hàng. Cho nên cuối cùng dừng lại ở huyện Thường Tín thuộc tỉnh Hà Tây, là một huyện liền đường, cách Hà Nội không xa, thầy trò đạp xe đi về chủ động, lại đại diện được cho một huyện nông nghiệp đồng bằng miền Bắc ít lai tạp nhất, với những nét đặc trưng về xã hội-kinh tế, đời sống, sức khỏe và bệnh tật chung cho nhiều huyện khác. Hơn nữa, cơ sở bệnh viện vào loại trung bình khá, phong trào y tế không quá yếu, địa phương sẵn sàng tiếp nhận và hợp tác. Bởi vậy, nhà trường đã “cắm” ở bệnh viện Thường Tín khá lâu, đóng góp nhiều công sức, đưa nhiều thầy năng nổ và giỏi chuyên môn về phụ trách điều trị, giảng dạy, xin thêm một số trang thiết bị cần thiết, nhận một số cán bộ của bệnh viện về trường học thêm kỹ thuật mới. Tại chỗ, trường còn cho xây dựng cả nhà cửa để thuận tiện cho việc ăn, ở của thầy trò.

Bệnh viện Bần Yên Nhân sơ tán về Tân An có cơ sở tốt, đáp ứng cho học tập, nhất là về sản phụ khoa, cán bộ lại nhiệt tình, nên trường và bộ môn cũng đóng góp thêm trang bị xét nghiệm, dụng cụ, mô hình sản khoa, đào tạo y sĩ gây mê, cùng cán bộ bệnh viện làm chung mọi việc. Vì vậy trong thời gian địch đánh phá, hai bệnh viện Thường Tín và Bần Yên Nhân đã giải quyết tốt hầu hết nạn nhân đưa tới, mà không phải chuyển lên tuyến cao hơn.

Hai bệnh viện này đã đóng trọn vai trò lịch sử của nó đối với trường.

Mở rộng qui mô. Vấn đề chất lượng

Yêu cầu cấp thiết về tăng số lượng đào tạo với những chỉ tiêu do Bộ qui định cho “kế hoạch 5 năm” (1961-1965) vẫn tiếp tục có hiệu lực cả về đối tượng lẫn số lượng, dù khi bước vào thời chiến đã không còn “kế hoạch 5 năm” nào nữa. Có năm toàn trường có tới 4.000 sinh viên, với 7 đối tượng đào tạo (ngoài đa khoa và chuyên khoa sơ bộ của hệ 6 năm; còn: hàm thụ, chuyên tu Vệ sinh Phòng dịch và Tổ chức Y tế, kỹ thuật viên trung cấp, dự bị đại học); nhưng chỉ có gần 300 thầy. Đã thế, từ 1967, Bộ Y Tế còn giao cho trường Đại học Y khoa Hà Nội đỡ đầu các lớp đại học Y mở tại các địa phương Việt Bắc, Thái Bình và Thanh Hóa kể từ năm học 1967-1968, và cũng từ đó, hàng năm nhà trường vẫn cử giáo viên đến giảng tại chỗ, hỗ trợ các đồng nghiệp về chương trình, giáo trình, kinh nghiệm.

Những thầy từng đi giảng ở các trường địa phương (diễn ra suốt 4 hay 5 năm liền) đều có nhận xét: đó là các trường chưa đủ điều kiện chín mùi để ra đời; mặc dù ngay từ đầu nó chỉ được gọi là “phân hiệu” (nhưng không thuộc một trường chính nào hết). Khốn nỗi, không thể trưng dụng một số thầy của trường Hà Nội về công tác dài hạn ở địa phương để xây dựng trường cho đến khi nó tự đứng được; vì: 1) số thầy ở trường Hà Nội đã quá thiếu so với số sinh viên và đối tượng được giao; 2) bộ Y tế không đủ quyền hạn tự ban hành các chế độ chính sách ưu đãi các thầy để khuyến khích họ dời bỏ Hà Nội về địa phương; 3) Bộ Y tế “nghèo” nhất trong các bộ (về ngân sách), không thể lấy đâu tiền để trang bị các trường địa phương cho “ra trường”. Ngay trường Hà Nội khi đó xuống cấp rất rõ, Bộ biết nhưng đành chịu.

Tình hình quá tải ở trường Hà Nội đã được Thứ trưởng Bộ Y Tế Vũ Văn Cẩn nói rất rõ trong một báo cáo đặc biệt của ông sau khi đến kiểm tra 2 trường Đại học Y và Đại học Dược trong tháng 5 và 6.1969.

Riêng về trường Y, ông đã đề cập tới những khó khăn như:
1. Số lượng sinh viên tăng quá nhanh và trình độ học sinh phổ thẳng tuyển vào giảm sút. Riêng năm 1969 sinh viên trường Y tăng 127% và tổng số tới 4.091;
2. Quá nhiều đối tượng đào tạo mà có loại có thể giao bớt cho trường khác (như Dự bị Đại học thực chất chỉ là bổ túc Văn hóa, hoặc như kỹ thuật viên trung cấp);
3. Số giáo viên chỉ có 298, tính ra 1/13,7 sinh viên (mức bình thường của nhiều trường khác thấp hơn 1/10);
4. Cơ sở thực tập, thực hành (không phải chỉ trong sơ tán) thiếu nghiêm trọng, nhất là không có bệnh viện thực hành;
5. Biên chế khung phục vụ không đủ: trường có 632/4.091, tính ra 1 phục vụ 6,4 (theo Bộ Đại học là 1/5);
6. Nhìn đời sống cán bộ, sinh viên, nhất là sinh viên nữ (chiếm 56%) thì đời sống sinh viên Y quá cực...

(báo cáo ngày 15.7.1969, xem L37-47)

Theo báo cáo kiểm tra cũng như thông báo nhận định của tập thể lãnh đạo Bộ Y Tế ngày 28.8.1969 thì tất cả các nguyên nhân trên đã khiến cho:
- Chất lượng chuyên môn đang có chiều hướng giảm sút rõ rệt trong mấy năm chiến tranh.
- Nhiệm vụ nghiên cứu khoa học chưa được thực hiện cân đối với nhiệm vụ huấn luyện

Dù chất lượng giảm từ trước 1965, nhưng từ lúc đó đến cuối 1968 vẫn được chính thức nhận định là “tăng”. Đã có nhiều tranh cãi, cuối cùng được thừa nhận “giảm” trong các Đại hội Đảng bộ XII (2.1969) và XIII (2.1971).

Vì vậy, từ năm 1970, Bộ Y Tế đã cho chuyển bớt các lớp hàm thụ về “lớp” đại học Thanh Hóa và Phân hiệu Đại học Y khoa Thái Bình, chỉ để lại Hà Nội các lớp Chuyên tu Vệ sinh phòng dịch và Tổ chức y tế. Và đến 1971, với sự thỏa thuận của Bộ Đại học, Bộ Y Tế đã ra quyết định giao cho Phân hiệu Đại học Y khoa Thái Bình đào tạo bác sĩ hệ dài hạn tập trung từ năm học 1971-1972 để trường Hà Nội giảm bớt được số lượng đại học mà dành công sức cho bậc Sau đại học mới được thành lập.

Một điều quan tâm và có ý kiến chỉ đạo rất cụ thể của Bộ Y Tế trong dịp này là vấn đề cơ sở thực hành của 2 trường. "Thông báo nhận định..." nói trên (có sao gửi tất cả các Vụ, Cục và báo cáo lên nhiều cơ quan trung ương) đã ghi rõ: "... ngoài cơ sở thực tập tổng hợp mà trường đã có công xây dựng ở bệnh xá huyện Thường Tín.... còn thiếu cơ sở trong biên chế nhà trường, do trường chủ động xây dựng theo yêu cầu huấn luyện. Số lượng và biên chế nhiều hay ít tùy điều kiện, khả năng cụ thể, nhưng nhất thiết phải có mới đảm bảo được yêu cầu mẫu mực thị phạm. Các cơ sở này ở 2 trường đều chưa có. Cần tập trung xây dựng bệnh viện thực hành cho trường Y, nghiên cứu việc xây dựng xưởng sản xuất và cửa hàng cho trường Dược..."

Đây là vấn đề tồn tại từ nhiều năm trong công tác đào tạo của ngành mà chính Bộ Y Tế cũng chưa gỡ ra được, tuy ngay từ tháng 5.1969, Bộ và nhà trường đã đi bước đầu tiên cho việc này bằng quyết định ngày 3.5.1969 tạm cử bác sĩ Đỗ Doãn Đại, phó Hiệu trưởng đến giữ chức quyền bệnh viện trưởng bệnh viện Bạch Mai. Sau đó, trường lại biệt phái ông Phạm Kim Huyên, ủy viên thường trực Đảng ủy nhà trường sang nhận chức bí thư Đảng ủy bệnh viện để dần dần thực hiện ý định về bệnh viện thực hành. Nhưng rồi không biết do đâu mà ý định ấy vẫn không bao giờ trở thành hiện thực mặc dù là ý định tốt lành, có sự chỉ đạo từ trên chứ không hề do một ý đồ "thôn tính" như hồi đó có số người nào đó ở bệnh viện Bạch Mai đã nghĩ.

ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

Bộ Y Tế có một Quyết Định đầy ý nghĩa, mở ra con đường tiến bộ về chuyên môn cho đông đảo bác sĩ và dược sĩ trong ngành. Đây là bậc đào tạo Sau đại học tại trường Đại học Y khoa Hà Nội, sớm nhất trong mạng lưới các trường đại học của cả miền Bắc và cũng là của cả nước. Trường Y được giao chuẩn bị nhiệm vụ này từ tháng 1.1970 để có thể mở thí điểm vào năm học 1972-1973.

Người có công lớn nhất trong việc làm tiên phong này là GS Hoàng Đình Cầu (ở bộ Y tế) và GS Nguyễn Trinh Cơ (ở đại học Y).

Bậc học này có ý nghĩa trước hết là nâng cao chất lượng phòng và chữa bệnh ở các cơ sở y tế thông qua nâng cao tay nghề cho các bác sĩ thực hành. Đối với số anh chị em này, từ trước chưa có một qui chế nào về việc bồi dưỡng nâng cao trình độ sau khi tốt nghiệp bác sĩ, ngoài một số ít ỏi may mắn được cử đi học ở nước ngoài. Do vậy, đây sẽ là một chế độ thúc đẩy việc học tập liên tục, thường xuyên, sau tốt nghiệp đại học, nâng cao tay nghề theo hướng chuyên khoa hóa ngày càng sâu, ngoài ra còn giúp cho việc tiêu chuẩn hóa cán bộ.
Vì bậc học này ra đời sau một thời gian dài đào tạo đại học nên số lượng bác sĩ đang hành nghề đã rất đông, số có thâm niên công tác cao chiếm tỷ lệ rất lớn. Tổ chức bồi dưỡng cho anh chị em là một nghĩa vụ và cũng là chính sách đối với cán bộ, nhưng do việc "trả nợ lịch sử" thực hiện muộn nên chỉ có thể làm dần dần và phân biệt theo thâm niên: người ra trường trước phải được bồi dưỡng trước, phải học tập trung trước để có kinh nghiệm rồi mới tổ chức học tại chức sau, mà tại chức là chính thì mới phát triển rộng rãi được.

Với ngành Y, thực hành và “tay nghề” là điều có ý nghĩa hàng đầu; đó cũng là điều người dân đòi hỏi trực tiếp nhất. Bởi vậy bằng sau đại học của ngành Y có tên là bác sĩ Chuyên khoa cấp I và bác sĩ Chuyên khoa cấp II.

Năm 1972 bắt đầu chiêu sinh học Chuyên khoa cấp 2, hệ tập trung (2 năm), dành trước tiên cho số bác sĩ ra trường đã lâu. Riêng số có thâm niên rất cao và tay nghề thật sự đã vững vàng chỉ cần tập trung 6 tháng (rõ ràng, phải cảm ơn các vị bác sĩ này vì công tự học vươn lên của họ). Những bác sĩ khác đều có thâm niên cao khi bước vào lớp chuyên khoa đầu tiên. Tất cả đều đã đọc tốt tiếng Pháp (do được học từ tiểu học), được công tác ở những nơi đủ sách tham khảo, khả năng tự học rất tốt. Họ học không mấy khó khăn, kể cả việc trinh bày luận văn trước hội đồng giám khảo. Năm 1974, chiêu sinh thêm một khoá chuyên khoa cấp II nữa. Đến nay các vị ở cả hai khoá đã đủ tuổi hưu.

Khoá đầu gồm các vị:
Ngoại khoa: Đỗ Quang, Đỗ Phú Đông,...
Nội khoa: Vũ Đình Hải, Nguyễn Văn Tân, Hà Văn Ngạc, Hoàng Nguyên Dực,...
Sản khoa: Lê Điềm, Trần Phi Liệt, Nguyễn Thị Ngọc Toản,...
Tai Mũi Họng: Nguyễn Thị Liên, Nguyễn Thị Mai,...
Khoá II, hệ tập trung 2 năm có 13 vị.
Nội khoa: Nguyễn Đức Thanh, Nguyễn Văn Tân, Lê Đức Chính. Ngoại khoa: Trần Gia Khánh, Đỗ Phú Đông, Nguyễn Mậu Anh, Đinh Đăng Bảng, Phạm Lộng Chương.
Sản khoa: Bùi Trọng Hoàn, Phó Đức Nhuận, Hoàng Thế Cường, Hoàng Bội Hoàn, Chu Kiện Sơn.
Hệ 6 tháng có 2 vị: Hoàng Tích Tộ (Ngoại) và Nguyễn Văn Tiệp (Nhi)

Hai năm sau, từ 1974, mới tổ chức thí điểm lớp Chuyên khoa cấp 1 tập trung đầu tiên. Chưa gọi các bác sĩ thâm niên cao về học, mà học viên lấy từ sinh viên đã học hết Y5, rất trẻ, có thành tích học tập tốt, rồi phải qua thi tuyển chặt chẽ, để đào tạo chuyên khoa từ năm thứ sáu. Sau khi thi tốt nghiệp, họ học tiếp ba năm chuyên khoa nữa (cộng cả thảy 9 năm). Họ sẽ thành cốt cán xây dựng ngành chuyên khoa sau này.

Ở Pháp, sau khi học 6 năm, sẽ thi ra để đi làm. Nhưng nếu lại qua được kỳ thi tuyển rất chặt chẽ thì sau 3 năm nghiên cứu sẽ là tiến sĩ. Còn những bác sĩ nói trên ở Việt nam cũng học 9 năm, nhưng 3 năm cuối dành cho lý thuyết chuyên khoa sâu, thực hành kỹ thuật cao và làm một luận văn nên trình độ thực hành vững hơn so với dành cả 3 năm cho một đề tài nghiên cứu.

Về sau, loại hình đào tạo này chia ra làm hai:

1) Nếu vẫn đào tạo như trên thì gọi là chế độ nội trú, bằng cấp cũng gọi là bác sĩ “nội trú” vì học viên được cấp một chỗ ở, trong bệnh viện, để ngày đêm “lăn lộn” với bệnh nhân. Sau này, thấy tuyển chọn từ Y5 là không cần thiết, đã đổi sang tuyển bác sĩ mới tốt nghiệp. Mỗi người chỉ được phép thi ‘nội trú” một lần ngay sau khi tốt nghiệp. Do thi tuyển rất chặt chẽ nên khoá I và khoá II chỉ chọn được cả thảy 25 người.

Chế độ nội trú rất đặc trưng cho ngành Y, có ở trường Y từ thời thuộc Pháp. Hầu hết các thầy lão thành của trường đều đã thi tuyển để được học theo chế độ này. Chỉ có điều, hồi xưa khoa học chưa phát triển nên bậc nội trú nằm ở “trong” đại học; nay phải đặt ra ‘sau” đại học; và thời gian học cũng phải tăng lên: 3 năm thay vì 1 năm.

2) Nếu chọn bác sĩ thâm niên cao (do vậy tuổi cũng cao), thi tuyển không ngặt nghèo lắm, cho học: a) 2 năm tập trung, hoặc b) 4-5 năm tại chức (tổng số thời gian tập trung chỉ 1,0 hay 1,5 năm), thì gọi là bác sĩ chuyên khoa cấp I. Đây là cách mở ra con đường tiến bộ cho đa số bác sĩ trong ngành. Đến nay chưa một ngành nào khác làm được như vậy. Tất cả trông vào dịp may được học Cao học.

Song song với việc tuyển "Nội trú", còn có một tiêu chuẩn nữa để sinh viên phấn đấu, để khuyến khích học giỏi và cũng phần nào để việc phân phối nơi công tác được công bằng: đó là tổ chức thi "Viện-Trường". Cùng dự thi tuyển Nội trú nhưng nếu không đạt Nội trú thì ở một chuẩn mực nào đó được học theo chế độ “Viện-Trường”, nghĩa là khi tốt nghiệp bác sĩ sẽ được phân phối về Viện nghiên cứu hay trường (Đại học/Cao đẳng), hoặc cấp tỉnh.
Sau những bước đầu thử nghiệm này, bậc học dần dần được hình thành, và được triển khai rộng rãi, có thêm chế đọ Trợ lý giảng dạy (để tuyển thầy cho các môn y học cơ sở).
Tới 1993 đã mở được được 17 khóa nội trú với 436 bác sĩ.
Đến lúc này bộ Đại Học mới ban hành chế độ Cao Học. Trường Y thích ứng bằng hai cách:
1) Vừa đào tạo nội trú (như cũ, kinh phí do bộ Y tế cấp), vừa đào tạo cao học (kinh phí và chỉ tiêu do bộ Đại học cấp)
2) Tạo sự liên thông giữa bằng nội trú và bằng cao học. Cụ thể: bác sĩ nội trú học thêm 1-2 chứng chỉ thì được cấp bằng cao học.

Vài nhận định: đã xác lập được nhiều loại hình đào tạo phù hợp, vừa có bác sĩ trẻ và giỏi (nội trú), vừa có bác sĩ tay nghề cao công tác ở khắp mọi vị trí trong màng lưới y tế rộng lớn (tuyến tỉnh và trung ương có bác sĩ chuyên khoa cấp II (và cấp I); ở huyện có bác sĩ chuyên khoa cấp I. Nếu chờ đợi thụ động chế độ của bộ Đại Học thì mất thêm 17 năm (và số cao học được tuyển chọn hàng năm cũng rất hạn chế). Mặt khác, nay cao học chỉ học 2 năm, khả năng thực hành không thể bằng nội trú (học 3 năm). Do sự liên thông, đến nay 100% bác sĩ nội trú đã có luôn cả bằng cao học. Khi tuyển chọn công chức, bác sĩ nội trú thường được các cơ quan y tế hoan nghênh hơn.

PHỤC VỤ SỰ NGHIỆP THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC

Chi viện chiến trường miền Nam

Chiến tranh làm cho trường Y Hà Nội, ngoài nhiệm vụ cung cấp bác sĩ cho màng lưới dân y, còn phải cung cấp cả thầy và trò cho quân đội và cho chiến trường miền Nam.

Việc huy động các thầy đi chiến trường miền Nam (hồi đó gọi tắt là đi B) được thực hiện từ rất sớm và thành nhiều đợt, với yêu cầu luân phiên nhau vào trao đổi kinh nghiệm về khoa học kỹ thuật và về tổ chức với cán bộ đang ở chiến trường, đồng thời khảo sát để đề xuất với Bộ những nhu cầu cần thiết. Trường hợp đi B sớm nhất là vào năm 1963: bác sĩ Huỳnh Văn Phan, chủ nhiệm bộ môn Y học Thể dục (đã hy sinh vài năm sau). Tiếp đó, đầu năm 1966 bác sĩ Phan Thị Phi Phi, cũng quê miền Nam, làm việc ở bộ môn Sinh lý bệnh học, được gọi tập trung, dù chồng là bộ đội và con mới hơn 1 tuổi. Mấy năm sau, tháng 4.1971, Bộ lại báo cho 27 cán bộ chuẩn bị, là những người thuộc hầu hết bộ môn cơ sở và một số bộ môn lâm sàng, với ý định vào miền Nam làm công tác đào tạo. Tình hình chiến sự ở miền Nam khi đó khiến không thể mở được một trường đại học. Do vậy trong số 27 thầy nói trên, chỉ có một số thầy được gọi đi B (tháng 7.1971): 4 thầy lâm sàng là Đỗ Nguyễn Phương, Đỗ Đức Văn, Nguyễn Mễ (cả 3 là Ngoại khoa) và Đào Văn Chinh (Nội khoa) vào làm việc tại các cơ sở y tế thuộc Trung ương Cục miền Nam; và 4 thầy ở các bộ môn cơ sở là Đỗ Đình Hồ, Nguyễn Chí Phi (Hóa Sinh), Phạm Hoàng Thế (Ký sinh trùng), Lê Huy Chính (Vi Sinh) cùng với một bác sĩ chuyên khoa huyết học (thuộc biên chế B) vào thành lập một tổ xét nghiệm, vừa trực tiếp phục vụ, vừa đào tạo cán bộ tại chỗ cho một bệnh viện địa phương. Cũng trong thời gian này, có một đoàn cán bộ khác của trường được cử vào "Công trường T.71" để phục vụ việc chuẩn bị hành lang cho cuộc chiến đấu mới (trong số này có thầy Nguyễn Hoàng Sơn, ở bộ môn Tai Mũi Họng).

Những đợt sau, vào tháng 2.1973, đến lượt các bác sĩ Võ Thế Quang, người miền Nam, phó chủ nhiệm bộ môn Râng Hàm Mặt (trong diện dự kiến đề bạt phó Hiệu trưởng) và Đoàn Trọng Hậu, bộ môn Mắt. Hai ông đã có vinh dự tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh rồi tiếp quản trường Đại học Y Dược Sài Gòn ngay từ ngày đầu, sau đó đã ở lại xây dựng nhà trường cho đến tận ngày nay.

Riêng trước đó, vào năm 1967, một trường hợp không trong diện huy động mà hoàn toàn do ước nguyện là giáo sư Đặng Văn Ngữ, chủ nhiệm bộ môn Ký sinh trùng và bộ môn Sinh học. Mặc dù tuổi không còn trẻ, ông đã xin kỳ được ra tiền tuyến để nghiên cứu tại chỗ sự lưu hành bệnh sốt rét, một bệnh rất nguy hại cho sức khỏe bộ đội và nhân dân các vùng đang chiến đấu mà nhờ nỗ lực của ông và các cộng sự, bệnh này đã coi như bị tiêu diệt trên miền Bắc. Trong khi tiến hành nhiệm vụ cao quý đó, ông đã hy sinh tại chiến trường, để lại nỗi tiếc thương vô hạn cho đồng sự và học trò. Nhà nước đã truy tặng ông danh hiệu Anh hùng Lao động.

Về sinh viên, bộ Y tế đã chọn ra hàng trăm người chủ yếu có quê quán ở miền Nam, giao cho trường đào tạo nhanh, để “đi B”.

Từ khóa 1961-1966, Bộ đã chọn ra một số sinh viên Y5, phần nhiều quê miền Nam, lập thành một lớp riêng, giao cho trường Y đào tạo khẩn trương (lấy tên: Y5C), đến 7.2.1966 Bộ đã công nhận tốt nghiệp trước thời hạn 47 người để đi công tác B thuộc 6 chuyên khoa, như Huỳnh Phương Liên (Vi sinh), Đào Hoàng Thư, Nguyễn Thị Lài (Tai Mũi Họng), Lê Hồng Quang (bí thư chi bộ lớp) cùng Phùng Ngọc Ân (trong số này, chuyên khoa Ngoại đông đảo nhất gồm 29 người).
Từ khóa học này, đến 10.8.1966 còn có một lớp chuyên khoa 52 người, cũng phần lớn quê miền Nam, dành cho diện B sau khi tốt nghiệp, cũng gồm 6 chuyên khoa: Ngoại khoa 27 người (như Cáp Sinh Cung, Tô Văn Nhiên, Huỳnh Văn Phước), Nội khoa 10 người (có Huỳnh Tấn Cảnh, lớp trưởng), Phụ Sản 9 người (như Phan Tuyết Đông, Phan Thị Ngọc Mai...), Gây mê-Hồi sức 3, Tai Mũi Họng 2, Mắt 1 người.
Khóa học tiếp sau (1962-1968) có 82 bác sĩ thuộc 20 chuyên khoa có đủ cả cơ sở và lâm sàng, để tổ chức đào tạo về Y, đã được Bộ điều động cho chiến trường B theo quyết định ngày 9.5.1968, trong đó gồm: Ngoại khoa 13 người (như Hồ Đăng Thới, Nguyễn Tấn Khởi, Đặng Tấn Tài...), Gây mê Hồi sức 4 người (như Tô Văn Có, Đinh Văn Khi...), Lao 7 người (như Trương Minh Vuông, Lê Bá Kiều...), Huyết học 2 người (có Trần Văn Bé, hiện là Viện trưởng Viện Huyết học - Truyền máu thành phố Hồ Chí Minh), Nhi 8 người (có Huỳnh Thị Xuân...), Dược lý học 2 người (có Lâm Hồng Tường..), Sinh lý bệnh 4 người (có Nguyễn Phụng Tiên, Phạm Như Đài, Nguyễn văn Thân, Trần Trạng...), Nội khoa 6 người (có Tăng Ngọc Minh...), Răng Hàm Mặt 2 người (có Thời Thị Tại...), Sản Phụ 5 người (có Nguyễn Phụng Hoàng).

Tới năm 1970 có thêm một hình thức nữa là Bộ Y Tế giao cho trường chỉ tiêu đào tạo cán bộ chuyên khoa “cho chiến trường B, C”. Thông báo ngày 28.8.1970 giao cho trường đào tạo 31 người, thời gian 1 năm, với nhiều chuyên khoa theo yêu cầu của Vụ 1.

Năm 1971, theo lệnh Tổng Động Viên, Bộ điều động một số sinh viên Y2, Y3 vào mặt trận Quảng Trị phụ trách quân y đại đội (cương vị y tá), có một số đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ. Sau chiến dịch này có một số trở về trường học tiếp như Đỗ Hán, Nguyễn Quốc Triệu, Nguyễn Hữu Cốc, Nguyễn Thanh Tùng, Nguyễn Văn Khanh, Phùng Ngọc Hoàn,Lê Lương Đống, Nguyễn Trọng Thông, Nguyễn Trần Quýnh, Trần Văn Tài..., một số khác về Học viện Quân Y. Trong 8 năm chống Mỹ cứu nước, từ 1965 đến 1972, nhà trường đã cử 241 cán bộ và sinh viên lên đường chi viện miền Nam, cung cấp cho chiến trường B tới 516 bác sĩ mà tới nay, nhiều người đã ở những cương vị chủ chốt của y tế miền Nam; nhiều người đã hy sinh, như bác sĩ Tâm đã ngã xuống giữa đường phố Sài Gòn trong dịp tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968. Nếu kể cả các bác sĩ khi ra trường được phân về các cơ sở y tế miền Bắc, rồi từ đó được cử đi B, thì trường này đã cung cấp cho nhu cầu giải phóng miền Nam hàng ngàn bác sĩ.

Nhập ngũ và đào tạo Bác sĩ cho quân đội

Ngoài các đợt nhập ngũ theo nghĩa vụ quân sự trong cán bộ, công nhân, viên chức, thì các đợt điều động thầy vào quân đội cũng được thực hiện vào thời gian chống Mỹ, bổ sung chủ yếu cho Đại học Quân Y, sau khi trường này từ trung cấp chuyển thành đại học trong quân đội.

Những đợt sớm nhất bắt đầu với việc điều hai giáo viên bộ môn Y Vật Lý (Nguyễn Xuân Giao và một người phụ trách kính hiển vi điện tử của trường để làm việc đó trong quân đội), cùng giáo viên tiếng Pháp Nguyễn Văn Cư và một số anh em khác. Sau đó là đợt các bác sĩ Vương Tiến Hòa, Đặng Văn Tằng... Những năm về sau, thường nhằm vào số thầy có năng lực cao như Nguyễn Văn Nguyên, Vũ Dương Quý (bộ môn Sinh lý bệnh), Phạm Quang Ngọc (Mô học), Hoàng Văn Lợi (Nội khoa) rồi sau đó là Đào Văn Phan (Dược Lý)... Đến nay những người tiếp tục ở lại quân y đều có những đóng góp lớn và cương vị cao ở Học viện quân y.

Đối với sinh viên, trong thời gian này chủ yếu là gọi nhập ngũ theo chỉ tiêu hàng năm (100 bác sĩ mới tốt nghiệp), sau khi được đoàn cán bộ quân lực và quân y đến nghiên cứu chọn trước (dựa trên lý lịch và học bạ). Ngoài ra còn hình thức điều động sớm sinh viên Y4, Y5 vào Đại học Quân Y học tiếp 1, 2 năm cuối cho phù hợp với yêu cầu phục vụ quân đội. Năm 1967, ở khóa 1962-1968 có 25 sinh viên được chọn chuyển vào học năm cuối, thi tốt nghiệp tại Đại học Quân Y nhưng vẫn do Bộ Y Tế công nhận, như các anh, chị Ngô Quang Chanh, Nguyễn Trọng Thuấn, Đỗ Thị Kim Chi, Hồ Tư Lĩnh, Trần Công Duyệt... Ngày 30.11.1968, từ khóa 1964-70 đã chọn ra 95 sinh viên đưa vào Đại học Quân Y học tiếp, phiên chế thành 2 đoàn nhập ngũ mà đoàn trưởng, đoàn phó là các anh Nguyễn Tiến Lương, Lê Xuân Lan, Tôn Thành Minh và Nguyễn Tiến Nạo. Đến năm 1969, các Bộ Y Tế và Quốc Phòng còn có yêu cầu chuyển giao 100 sinh viên ngay từ cuối năm thứ tư sang học tiếp ở Đại học Quân Y bắt đầu từ tháng 7.1969.

Như vậy, cũng từ 1965 đến 1972, theo Bản tổng kết 8 năm chống Mỹ cứu nước, trường ta đã chuyển vào Đại học Quân Y 332 sinh viên Y5 và Y6, và bổ sung cho quân đội 679 bác sĩ, tổng cộng trên 1000 người.

Trong số này, có người đã lập được thành tích phục vụ chiến đấu ngay sau khi mới ra trường như bác sĩ Huỳnh Ri ở Cồn Cỏ, bác sĩ Nguyễn Thị Chuân, chiến sĩ thi đua của đơn vị mới nhập, bác sĩ Trần Công Duyệt ở Khe Sanh, Quảng Trị được thưởng huân chương và được kết nạp Đảng ngoài mặt trận v.v.. Đông đảo anh chị em đã làm tốt hoặc xuất sắc nhiệm vụ ở tất cả các cơ sở điều trị, nghiên cứu, giảng dạy ở các quân khu từ Bắc chí Nam, từ quân y ở các đơn vị quân đội đến các cơ sở quân y trung ương và không ít người đã đảm nhận những vị trí chủ chốt hoặc trọng yếu hiện nay ở các đơn vị công tác (tạm kể các anh, chị như Nguyễn Kim Nữ Hiếu, Nguyễn Huệ, Trần Công Duyệt, Nguyễn Phong Tuyết... (ở Viện Quân Y 108), Phạm Mạnh Hùng, Hoàng Văn Lợi, Đinh Thị Đán, Nguyễn Thị Tỵ... (ở Học viện Quân Y và Viện Quân Y 103), v.v...

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHỦ YẾU

(a, b, c)
* Bibliographie des Thèses de Médecine - Université de Saigon - 1972
* Các văn bản của trường và văn bản gửi đến trường (từ thời Pháp thuộc, thời kháng chiến chống Pháp và gần đây: bản photocopy lưu ở Ban Tư liệu - Lịch Sử trường Đại Học Y Hà Nội) Các văn bản khai thác ở Trung tâm Luư trữ Quốc gia (bản photocopy lưu ở Ban Tư liệu - Lịch Sử, trường Đại Học Y Hà Nội)
* Đinh Xuân Lâm (chủ biên), và nhiều tác giả. Đại học tổng hợp (lược sử), 1991.
* (Henri Galliard: Yersin và việc thành lập trường Y Hà Nội - Kỷ yếu trường Đại học Y Dược khoa Đông Dương, Hà Nội.- Tập 9.- 1944, tr 1).
* Hồi ký viết tay và phỏng vấn ghi âm của các thầy trường Y (Hồ Đắc Di, Vũ Công Hoè, Vưu Hữu Chánh): Đặng Vũ Viêm và Trương Văn Hợi thực hiện
* Hồi ký viết tay và phỏng vấn ghi âm của các vị cựu sinh viên Y và Dược thời kỳ chống Pháp (Nguyễn Xuân Ty, Nguyễn Dương Quang, Nguyễn văn Nhân, Nguyễn văn Âu, Nguyễn Bửu Triều, Phạm Văn Phúc, Nguyễn Hữu Thiệu, Nguyễn Văn Bảy..., từ khoá vào trường năm 1943 đến 1952).
* Hồi ký viết tay của các vị cựu sinh viên Nguyễn Văn Vân, Đặng Kim Châu, Nguyễn Thường Xuân, Nguyễn Như Bằng, Đỗ Bá Hiển
* Lamb H.B.: The Vietnam's will to live.- Ncew York, 1972
* Lê Văn Khải. Truyện y sỹ, Truyện y khoa (hồi ký) 1971
* Nguyễn Dương Quang và cộng sự. Sơ lược lịch sử 90 năm Bệnh viện Hữu nghị Việt-Đức Hà Nội. Nhà Xuất bản Y Học, 1996.
*Nguyễn Bắc. Giữa thành phố bị chiếm - Nhà xuất bản Hà Nội 1994
* Nguyễn Ngọc Lanh, Trương Văn Hợi, Đặng Vũ Viêm. Sơ thảo lịch sử 50 đại học Y khoa Hà Nội (1945-1995; lưu hành nội bộ).
* Nhiều tác giả. Các sách về Cuộc đời và sự nghiệp (các vị: Hồ Đắc Di, Tôn Thất Tùng, Trần Hữu Tước, Đặng Văn Ngữ, Đỗ Xuân Hợp). Nhà xuất bản Y học. 1999 -2000
* Nhiều tác giả. Sơ lược lịch sử y tế Việt Nam - Nhà xuất bản Y học - 1999
* Nhiều tác giả. 45 năm phục vụ chiến đấu xây dựng và trưởng thành - Quân Y Viện 103
* Nhiều tác giả. Alexandre Yersin: Un demi-siècle au Vietnam. Hanoi (seminaire sur A. Yersin, Nha Trang ), 1992.
* Nhiều tác giả. Sơ thảo lịch sử trường Đại học Dược khoa.
* Phỏng vấn ghi âm nhóm cựu sinh viên kháng chiến năm 1950 - 1954 (Trần Quán Anh thực hiện)
*Tôn Thất Tùng (Hồi ký). Đường vào khoa học của tôi. NXB Thanh Niên, 1973)
* Trường Y Dược toàn cấp Đông Dương - L'Ecole de plein exercice de Médecine et de Pharmacie de l'Indochine.- Nha Học chính Đông Dương xuất bản.- Hà Nội, 1931)
* Tạp chí hàng năm của trường Đại học Y Dược (Annales các năm 1940-1944)
* Tôn Thất Tùng, cuộc đời và sự nghiệp - NXB Y Học, 1997).
* Việt Nam Dân Quốc Công Báo (tiếng Việt, các số 1945 và 1946) và Journal officiel de l’ Indochine francaise (các số 1902, và các số sau đó)
* Võ Nguyên Giáp. Chiến đấu trong vòng vây. NXB QĐND, 1998

 

Ban lịch sử Đại học Y Hà Nội
10/1/2003


Network Center, Hanoi Medical University.
Copyright 2001 HMU. All rights reserved.