I. LỊCH SỬ CỦA BỘ MÔN
1.1. Hoàn cảnh ra đời
Năm 1955, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi, trường Đại học Y Dược từ chiến khu Việt Bắc trở về Hà Nội tiếp tục đào tạo bác sĩ, dược sĩ cho cả nước.
Chương trình đào tạo của Trường từ năm 1955-1959 tập trung chủ yếu vào y sinh học, vào lâm sàng và chăm sóc người bệnh trong bệnh viện. Tuy vậy, khi tốt nghiệp, đại đa số các bác sĩ lại đi nhận công tác ở các địa phương, phải đương đầu với các vấn đề sức khoẻ của cộng đồng, bỡ ngỡ trước hệ thống các cơ sở y tế địa phương nhất là khi được trao nhiệm vụ lãnh đạo và quản lý các cơ sở y tế đó.
Để đáp ứng nhu cầu biết về tổ chức y tế, về nhiệm vụ và hoạt động của các cơ sở y tế, về thực tế tình hình sức khoẻ và bệnh tật của nhân dân, về đường lối, chủ trương chính sách y tế, trường đã mời các cán bộ lãnh đạo ở Bộ Y tế phổ biến cho các bác sĩ tân khoa những điều cần thiết về tổ chức y tế không có trong chương trình đào tạo chính thức. Thời gian tập huấn cho các khoá đầu là vài ngày rồi nâng dần lên vài tuần cho các khoá sau.
Sự nghiệp y tế khi đó phát triển rất nhanh, các bác sĩ ra trường về các địa phương ngày càng nhiều. Những vấn đề sức khoẻ của nhân dân được nêu lên đòi hỏi các bác sĩ phải có kiến thức và kỹ năng tốt về tổ chức mới giải quyết được. Rất cần thiết có một bộ môn chuyên trách và một chương trình giảng dạy chính khoá cho sinh viên mới đáp ứng được nhu cầu trên.
Năm 1960 Bộ môn Tổ chức y tế được thành lập, do bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, Bộ trưởng Bộ Y tế trực tiếp làm chủ nhiệm Bộ môn.
Từ năm 1980, nhận thấy chương trình đào tạo của Trường, bên cạnh việc nghiên cứu và giải quyết vấn đề y sinh học, cần chú trọng thích đáng đến tính chất xã hội của con người. Bộ môn Tổ chức y tế đã từng tiếp cận nhiều vấn đề y xã hội nên Bộ môn đã đề nghị trường đổi tên Bộ môn thành Y xã hộ học và tổ chức y tế.
Từ năm 1990, khi thành lập Khoa Y tế công cộng thì Bộ môn lại được đổi tên thành Tổ chức và quản lý y tế.
1.2. Chức năng và nhiệm vụ của bộ môn
- Là một bộ môn chuyên môn trong Khoa Y tế công cộng có chức năng giảng dạy các môn học Tổ chức y tế, Quản lý y tế, Chính sách y tế, Giáo dục sức khoẻ và Tâm lý y học, ngoài ra còn tham gia giảng dạy các môn học khác cùng với các Bộ môn trong khoa y tế công cộng như Dân số học, Kinh tế y tế, Nguyên lý sức khoẻ cộng đồng và Chương trình y tế quốc gia cho các đối tượng đại học và sau đại học của Trường Đại học Y Hà Nội.
- Tham gia giảng dạy đại học và sau đại học cho các trường y khác trong cả nước.
- Hướng dẫn Nguyên cứu sinh làm luận án. Học viên cao học làm luận văn và Sinh viên đại học làm khoá luận tốt nghiệp.
- Thực hiện các chương trình, đề tài nghiên cứu khoa học thuộc các lĩnh vực Tổ chức y tế, Quản lý y tế, Chính sách y tế, Giáo dục sức khoẻ, Tâm lý y học và các lĩnh vực khác thuộc y tế công cộng.
- Quản lý nhân lực Bộ môn và cơ sở vật chất, tài sản trường giao cho Bộ môn
- Thực hiện các nhiệm vụ khác mà Khoa y tế công cộng và Trường giao cho Bộ môn
- Tham gia các hoạt động phục vụ sức khoẻ nhân dân và các hoạt động của ngành Y tế trong phạm vi chuyên môn của Bộ môn.
- Hợp tác quốc tế về đào tạo và nghiên cứu trong phạm vi chuyên môn cảu Bộ môn.
II. THÔNG TIN VỀ NHÂN SỰ
2.1. Các lãnh đạo tiền nhiệm:
- Trưởng bộ môn: BS. Phạm Ngọc Thạch, BS. Nguyễn Văn Tín, TS. Đặng Hồi Xuân, PGS.TS. Lê Hùng Lâm; GS.TS. Trương Việt Dũng
- Phó Trưởng bộ môn: BS. Lê Văn Phụng; TS. Nguyễn Duy Luật, TS. Nguyễn Văn Hiến
2.2. Lãnh đạo hiện nay:
Trưởng bộ môn: PGS.TS. Nguyễn Hoàng Long 
Phó trưởng bộ môn: PGS.TS. Nguyễn Văn Huy
Phó trưởng bộ môn: ThS. Trần Thị Nga
2.3. Thành phần cán bộ hiện có: 08 người, bao gồm: 01 Giáo sư-Tiến sĩ; 02 PGS; 02 Tiến sĩ; 03 Thạc sĩ;.
1. Tr­ương Việt Dũng
2. Ngô Trí Tuấn
3. Vũ Khắc L­ương
4. Nguyễn Duy Luật
5. Nguyễn Hữu Cầu

6. Nguyễn Văn Huy

7. Trần Thị Nga
8. Nguyễn Hữu Thắng
 
III. HOẠT ĐỘNG CỦA BỘ MÔN
3.1. Quy mô đào tạo từ năm 2005-2006:
3.1.1. Quy mô đào tạo Đại học năm học 2005-2006 (Không kể số giờ: Thực hành cộng đồng 02 tuần; hướng dẫn khoá luận; hướng dẫn ôn thi tốt nghiệp về thực hành; Chấm bài thi):
3.1.2. Quy mô đào tạo Sau Đại học năm học 2005-2006 (Không kể số giờ: Thực hành cộng đồng; Hướng dẫn luận văn cao học; Hướng dẫn ôn thi tuyển; Chấm bài thi và chấm luận án, luận văn và tiểu luận):
3.1.3. Hướng dẫn 02 học viên cao học và 02 nghiên cứu sinh mỗi năm
3.1.4. Ngoài ra Bộ môn còn tham gia đào tạo cho các trường Đại học Y, Đại học YTCC và đào tạo lại cho cán bộ y tế các địa phương.
3.2. Thành tích đã đạt được
- Đã phát triển chương trình chi tiết các môn học do Bộ môn đảm nhiệm
- Đào tạo đại học: BS. Chuyên tu tổ chức y tế; BS và cử nhân y khoa cho hệ Đa khoa và một số chuyên khoa. Tham gia giảng dạy cho một số trường Đại học Y trong cả nước.
- Đào tạo sau đại học: Giảng chứng chỉ môn học cho Cao học YTCC, YHDP, DTH, DDCĐ, CKI YHDP, CKII YHDP. Hướng dẫn NCS và Cao học thành công: 07 TS, 21 ThS, trong đó có NCS và Cao học Lào, Căm Pu Chia, 01 TTS Lào.
- Tham gia đào tạo Cao đẳng và Trung học
- Biên soạn tài liệu chuyên ngành: 14 cuốn sách dùng giảng dạy môn học cho trường, 11 cuốn sách dùng đào tạo lại CBYT cho ngành, 02 cuốn sách dùng giảng dạy môn học cho trường khác và một số sách tham khảo khác.
- NCKH: Các công trình nghiên cứu cấp Nhà nước, cấp Bộ và cơ sở về lĩnh vực chuyên ngành. Đã có 137 bài báo khoa học đã được công bố
- Phục vụ ngành: Viết giáo trình và đào tạo lại cho các Cán bộ Y tế các tuyến, tham gia nghiên cứu về quản lý và chính sách y tế; giáo dục sức khoẻ của Bộ Y tế, phối hợp với các Bộ môn khác trong đào tạo và NCKH, phối hợp với các địa phương NCKH và giải quyết các vấn đề sức khoẻ của cộng đồng.
3.3. Những khó khăn thuận lợi của bộ môn
3.3.1. Những khó khăn:
- Số lượng cán bộ còn ít so với nhu cầu công việc
- Cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học (2 nhiệm vụ chính) còn nghèo nàn.
3.3.2. Những thuận lợi:
- Trưởng Bộ môn vừa là Vụ trưởng Vụ KHĐT Bộ Y tế tạo mối liên hệ chặt chẽ với Bộ Y tế và toàn ngành y tế.
- Đội ngũ cán bộ Bộ môn có trình độ năng lực tốt trong hoạt động giảng dạy, nghiên cứu và quan hệ trong nước cũng như quan hệ quốc tế.
- Bộ môn là một bộ phận của Khoa Y tế công cộng nên có lợi thế lồng ghép trong triển khai các hoạt động giảng dạy, nghiên cứu và phục vụ thuận lợi, tạo nên sức mạnh tổng hợp.
3.4. Hợp tác quốc tế:
Hợp tác với Hà Lan, Thuỵ Điển, Úc, Pháp trong khuôn khổ hợp tác quốc tế của Khoa YTCC