Tên đơn vị: PHÒNG VẬT TƯ & TRANG THIẾT BỊ

Địa chỉ đơn vị: Tầng 4 nhà A1

Điện thoại đơn vị: 024.8523798 - 3535

Email:

I. LỊCH SỬ THÀNH LẬP PHÒNG

Từ năm 1957 đến 1994 và từ 1999 đến 2012 tên là Phòng Giáo tài

Từ 1994 đến 1999 tên là Phòng Vật tư kỹ thuật

Từ 2012 đến nay là Phòng Vật tư và Trang thiết bị

Phòng Vật tư trang thiết bị (tên cũ là Phòng Giáo tài) là đơn vị hậu cần chuyên môn, Phòng được thành lập năm 1957 từ khi Trường còn mang tên Trường Đại học Y - Dược Hà Nội, trước đó công tác Giáo tài cùng nằm trong Ban Hành chính - Quản trị. Đến năm 1961 Trường Đại học Y Dược tách thành Trường Đại học Y khoa Hà Nội và Trường Đại học Dược khoa Hà Nội thì Phòng Giáo tài là một trong 4 phòng của Trường là Phòng Giáo vụ, Phòng Giáo tài, Phòng Tổ chức và Phòng Hành chính Quản trị. Khi đó, ngoài chức năng hậu cần về kỹ thuật và cung ứng, Phòng còn đảm nhận việc cung cấp giáo trình, in tài liệu học tập cho Nhà trường.

Chức năng nhiệm vụ của phòng khi thành lập gồm các công việc sau

- Cung cấp máy móc, hoá chất, thiết bị, dụng cụ chuyên môn.

- Cung cấp và chăn nuôi súc vật thí nghiệm.

- Quản lý tài sản.

- Sửa chữa thiết bị, dụng cụ thí nghiệm

- Vẽ tranh, tài liệu cho giảng dạy.

- In ấn tài liệu, sách giáo khoa.

Văn phòng đầu tiên khi thành lập tại 13 Lê Thánh Tông

Các Trưởng phòng tiền nhiệm các thời kỳ

1. Ông Trịnh Quý Đông (1957 - 1959), Cán bộ kháng chiến, là đại biểu Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khoá I. Ông mất hồi đầu tháng 9/2002.

2. Ông Vũ Đình Thông (1959 - 1962), nguyên Chính trị viên tiểu đoàn 307

3. Ông Nguyễn Trung Chính, Dược sĩ, sau chuyển sang Trưởng khoa Sinh hoá Bệnh viện Việt Xô, là PGS.

4. Ông Nguyễn Đình Bảo, cán bộ chính trị

5. Ông Nguyễn Thọ Ưu, cán bộ chính trị

6. Bác sĩ Cao Văn Tích (1966 đến 1976)

    Dược sĩ Phạm Kim Quy (1968 - 1977):

    Phó phòng Ông Nguyễn Văn Lộc: Phó phòng - sau chuyển sang làm trưởng phòng Quản trị.

7. Dược sĩ Phạm Kim Quy (1977 - 1994)

KS. Nguyễn Huy Thuyết, Phó phòng

8. KS. Hoàng Thế Long (1994 - 1998) ghép Phòng Giáo tài, Xưởng sửa chữa, phòng Quản trị, Ban kiến thiết, Tổ giảng đường thành phòng Vật tư kỹ thuật, các phó trưởng phòng gồm:

            KS. Vũ Văn Đoan, phụ trách Giáo tài và Xưởng sửa chữa

            Ông Hoàng Kỳ, phụ trách mảng kiến thiết, XDCB

            Ông Lê Văn Doanh, phụ trách công tác Quản trị, Giảng đường

9. KS. Vũ Văn Đoan từ năm 1998 đến 2015, kiêm Trưởng phòng Vật tư TB – Quản trị Bệnh viện từ 2007 – 2015

Phó phòng: DS. Vũ Thị Nhâm từ 1999 - 2010

Bí thư chi bộ các thời kỳ

1. Đ/c. Phạm Kim Quy: BT Chi bộ Giáo tài (1973 - 1994)

2. Đ/c Hoàng Kỳ: BT Chi bộ VTKT (1994 - 1998)

3. Đ/c. Vũ Văn Đoan: BT Chi bộ Giáo tài (1998 đến 2015), Uỷ viên BCH Đảng bộ khoá X.

4. Đ/c. Phạm Quang Tân: BT Chi bộ Vật tư Thiết bị - Công nghệ Thông tin (2015 - 2017)

Lãnh đạo Phòng hiện nay

- Trưởng phòng: ThS. KS. Đỗ Công Khang

- Phó Trưởng phòng:

- TS. DS. Bùi Thị Minh Thu

- Bí thư chi bộ: Đ/c. Đỗ Công Khang

- Tổ trưởng Công đoàn: Đ/c Lê Ngọc Soạn

Nhân sự: 14 viên chức, lao động hợp đồng

Trong đó: Tiến sỹ 1, Thạc sỹ 4, Đại học: 5, khác: 3;

Đảng viên: 8; tuổi bình quân: 40 (2017)

Được phân thành 2 tổ:

Tổ Hành chính: Quản lý, cung ứng: 9 cán bộ

Tổ sửa chữa, quản lý phòng thực tập: 4 cán bộ

II. CHỨC NĂNG VÀ NHIỆM VỤ CHÍNH CỦA PHÒNG HIỆN NAY

1. Quản lý theo dõi toàn bộ Tài sản cố định là trang thiết bị của toàn Trường.

2. Cung ứng về trang thiết bị, hoá chất, dụng cụ, động vật thí nghiệm cho hoạt động chuyên môn của toàn Trường.

3. Sửa chữa, bảo dưỡng trang thiết bị.

4. Quản lý một số phòng thực tập tại nhà B4

5. Tham mưu cho lãnh đạo về quy hoạch và đầu tư trang thiết bị phục vụ cho giảng dạy, NCKH. Tham gia xây dựng các dự án về phát triển KHCN, Công nghệ thông tin…. Phối hợp cùng các đơn vị và BQL các dự án triển khai xây dựng các Labo kỹ thuật cao của Nhà trường.

6. Quản lý hệ thống trạm điện, trạm nước đảm bảo cung cấp đủ, ổn định điện nước cho hoạt động chuyên môn và sinh hoạt của Sinh viên, học viên trong KTX tới năm 2011, tổ điện – nước chuyển lại về Phòng Quản trị.

7. Quản lý hệ thống phần cứng tổng đài điện thoại và mạng LAN của Trường.

8. Tiếp nhận, theo dõi các loại tài sản viện trợ.

9. Thường trực công tác an toàn, BHLĐ của Nhà trường.

III. LỊCH SỬ VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA PHÒNG QUA CÁC THỜI KỲ

1- Thời kỳ đầu đến 1964

Cùng với sự phát triển của Nhà trường, công tác hậu cần chuyên môn có một vai trò và vị trí quan trọng, nó trực tiếp phục vụ và ảnh hưởng đến chất lượng công tác đào tạo và NCKH của Nhà trường. Ngay từ những ngày hoà bình lập lại, Trường Đại học Y Dược trở lại hoạt động trong không khí mới, số lượng sinh viên tuyển đông hơn gấp bội, chương trình và giáo trình giáo án được cải tiến và xuất bản nhiều. Ngoài nhiệm vụ hậu cần về vật tư trang thiết bị, Phòng còn đảm nhận việc in ấn, cung cấp giáo trình giáo án cho sinh viên và cán bộ. Phòng tổ chức tiếp nhận nhiều đợt viện trợ trang thiết bị từ các nước XHCN giúp Trường xây dựng các phòng thực tập và các Labo NCKH cho hầu hết các bộ môn. Ngoài ra còn thành lập bộ phận chăn nuôi súc vật thí nghiệm. Thời kỳ này phòng đóng ở 13 Lê Thánh Tông, Tổ Sửa chữa ở 48 Tăng Bạt Hổ.

2- Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ 1964 - 1975

Đây là thời kỳ vô cùng khó khăn của Nhà trường cũng như của Phòng, khi đế quốc Mỹ leo thang đánh phá Miền Bắc, Trường phải sơ tán đến các địa phương như Phủ Lý, Hợp Thành, Tân Thanh, Phấn Mễ – Phú Lương - Thái Nguyên…. Cán bộ của Phòng vừa phải đảm bảo nhiệm vụ ở cơ sở Trường tại Hà Nội vừa phải đi theo các bộ phận của Trường đến các vùng sơ tán đảm bảo cung cấp trang thiết bị và vật tư cho giảng dạy, học tập và NCKH của Nhà trường. Nhiều cán bộ của phòng trên đường vận chuyển hoá chất, vật tư, súc vật thí nghiệm từ Hà nội lên nơi sơ tán đã vượt qua những trận đánh phá ác liệt của máy bay Mỹ khi qua cầu Gia Bẩy – Thái Nguyên.

3- Thời kỳ 1975 - 1985

Từ khi Miền Nam được giải phóng, đất nước được thống nhất hoạt động của nhà trường dần ổn định, năm 1979 Phòng chuyển văn phòng từ 13 Lê Thánh Tông về cơ sở ở Khương Thượng. Xưởng sửa chữa vẫn tiếp tục ở lại Viện Giải phẫu - 48 Tăng Bạt Hổ. Trong giai đoạn này Nhà trường được nhận một số lớn trang thiết bị, phương tiện, vật tư cho giảng dạy và học tập do Chính phủ Thuỵ Điển, Tổ chức Y tế Thế giới.v.v. viện trợ. Phòng đã tổ chức tiếp nhận và phân phối kịp thời cùng các bộ môn nâng cấp các phòng thực tập và các Labô cho NCKH đáp ứng được cơ bản nhu cầu về trang thiết bị của Nhà trường, từ đó hình thành màng lưới cán bộ phụ trách công tác giáo tài tại tất cả các đơn vị. Cũng trong thời gian này do trang thiết bị được tăng cường nhiều nên bộ phận an toàn và bảo hộ lao động được thành lập, và liên tục tới nay đây là một mặt công tác của Phòng.

Thời kỳ đầu những năm 80, tình hình đất nước trong cơn khủng khoảng nghiêm trọng, đời sống nhân dân nói chung và đời sống CBCNV Nhà trường nói riêng vô cùng khó khăn. Ngân sách được cấp rất hạn hẹp, tình hình cung ứng càng gặp nhiều khó khăn nhưng phòng vẫn cố gắng đảm bảo được cho hoạt động của nhà trường, đến khi nền kinh tế bắt đầu có cơ chế mở, Phòng Giáo tài là đơn vị tiên phong trong việc nghiên cứu các loại hình sản xuất để góp phần cải thiện đời sống CBCNV như sản xuất Philatop, nước cất tiêm, chỉ khâu Catgut, băng dính y tế và nhiều mặt hàng tân dược khác. Năm 1981 Phòng thành lập thêm tổ sản xuất mô hình giải phẫu gồm hoạ sĩ Đào Minh Đức và Đ/c Nguyễn Văn Hoà. Tổ đã sản xuất nhiều mô hình và tranh giải phẫu đáp ứng được cơ bản nhu cầu cho giảng dạy của một số bộ môn trong nhiều năm.

Năm 1980, ngoài công tác chính, Tổ Sửa chữa đã tổ chức xưởng sản xuất nước cất tiêm tại 48 Tăng Bạt Hổ. Về sau do nhu cầu của xã hội nên quy mô sản xuất tăng, Nhà trường đã chuyển xưởng sản xuất về Khương Thượng hình thành Xưởng sản xuất sau đó phát triển thành Công ty Dược phẩm Đại Y với sản phẩm chính là Filatop, công ty này đã đóng vai trò chính nhiều năm tạo quỹ phúc lợi cải thiện đời sống CBCNV. Công ty đã hoạt động đến năm 1998 và đã có 6 trong 7 đồng chí là cán bộ phòng Giáo tài kiêm phụ trách Công ty Đại Y (KS. Nguyễn Huy Thuyết, DS. Phạm Kim Quy, ông Trần Đức Luận, DS. Phạm Quang Mười, DS. Vũ Thị Nhâm).

4- Thời kỳ đổi mới 1986 - 2002

Giữa những năm 80 Nhà trường có sự thay đổi về lãnh đạo, tình hình Nhà trường có một số khó khăn. Đây là giai đoạn nền kinh tế đất nước vẫn trong tình trạng khó khăn, đời sống nhân dân nói chung và đời sống CBCNV Nhà trường nói riêng vô cùng khó khăn.

Năm 1986, thời kỳ Giáo sư Hoảng Đình Cầu làm hiệu trưởng và tiếp đến năm 1986 - 1993 (Hiệu trưởng là GS. Nguyễn Thụ, Phó Hiệu trưởng Hậu cần là PGS. Văn Đình Hoa), giai đoạn này Xưởng sửa chữa tách khỏi phòng Giáo tài, sát nhập thêm tổ điện nước Phòng Quản trị thành một đơn vị độc lập trực thuộc BGH do KS. Nguyễn Huy Thuyết Phụ trách, KS. Vũ Văn Đoan là Phó với mục đích củng cố và quy tụ tất cả cán bộ kỹ thuật của trường về một mối.

Đến năm 1994, BGH nhiệm kỳ 1993 - 1997 quyết định sát nhập Phòng Giáo tài, Tổ Sửa chữa cùng Phòng Quản trị, Ban kiến thiết thành lập phòng Vật tư kỹ thuật do KS. Hoàng Thế Long - Phó Hiệu trưởng hậu cần trực tiếp làm trưởng phòng. KS. Vũ Văn Đoan là Phó trưởng phòng phụ trách bộ phận Giáo tài và Xưởng sửa chữa. Đ/c Hoàng Kỳ chuyển từ văn phòng Đảng uỷ về làm Phó phòng phụ trách bộ phận Quản trị - KTCB, Đ/c Lê Văn Doanh Phó phòng phụ trách công tác cung ứng vật tư thông dụng và tổ giảng đường.

Năm 1998, khi Ban Giám hiệu nhiệm kỳ 1998 - 2002 nhậm chức. BS. Đỗ Hán nguyên phó Trưởng phòng TCCB được cử làm Phó Hiệu trưởng phụ trách kinh tế (Hậu cần), Phòng Vật tư - Kỹ thuật được tách lại thành 2 phòng: Phòng Giáo tài gồm Bộ phận Giáo tài và Xưởng sửa chữa do KS. Vũ Văn Đoan làm quyền Trưởng phòng. Phòng Quản trị gồm bộ phận Quản trị, Kiến thiết, Tổ giảng đường, Ban in và tổ xe từ HCTH về. KS. Hoàng Ngọc Thanh nguyên Phó phòng HCTH được cử làm quyền Trưởng phòng, hai phó phòng là đ/c Hoàng Kỳ và đ/c Lê Văn Doanh. Đến tháng 1/2000 đ/c Đoan và đ/c Thanh có quyết định chính thức đề bạt làm Trưởng phòng. Từ 10/1999 Dược sĩ Vũ Thị Nhâm được đề bạt làm Phó trưởng Phòng Giáo tài.

Khi Bệnh viện thành lập, KS. Vũ Văn Đoan được cử kiêm Trưởng Phòng Vật tư thiết bị Quản trị của Bệnh viện từ tháng 9/2007 đến hết tháng 4 năm 2015. DS. Vũ Thị Nhâm kiêm Phó trưởng khoa Dược cũng từ 2007 đến 2010.

5- Thời kỳ đổi mới 2002 - 2017

Đây là thời kỳ Nhà trường có nhiều hoạt động mạnh về đầu tư cơ sở vật chất và cũng là giai đoạn 3 Hiệu trưởng và 4 phó hiệu trưởng hậu cần. PGS. Tôn Thất Bách thôi làm Hiệu trưởng và chuyển làm Giám đốc Bệnh viện Việt Đức. PGS. Nguyễn Lân Việt giữ chức Hiệu trưởng nhiệm kỳ 2003 - 2008. PGS. TS. Nguyễn Đức Hinh Hiệu trưởng từ 2008 đến nay. Phó Hiệu trưởng hậu cần là BS. Đỗ Hán, TS. Lưu Ngọc Hoạt thay BS. Đỗ Hán giữ chức vụ Phó Hiệu trưởng từ năm 2004 đến 2011, TS Đoàn Ngọc Xuân 2011 - 2014 và TS Tạ Văn Khoái từ 2014 đến nay. Đây là giai đoạn Phòng Vật tư Trang thiết bị đảm nhận nhiều nhiệm vụ quan trọng góp phần đổi mới hầu hết trang thiết bị của các đơn vị. Giai đoạn này có các dự án sau:

- Tiếp tục thực hiện Dự án Cải tạo mở rộng trường Đại học Y Hà Nội, ngoài việc tiếp tục đầu tư cho Labo Trung tâm đã đầu tư cho các bộ môn YHCS. Các bộ môn đã được đầu tư một số trang thiết bị hiện đại như: trang thiết bị xử lý bệnh phẩm, các loại máy cắt tiêu bản cho giải phẫu bệnh, thiết bị cho labo tư vấn di truyền của Sinh học, Thiết bị labo Hỗ trợ sinh sản và bảo quản mô của Mô phôi, thiết bị xét nghiệm sinh hoá miễn dịch cho Bộ môn Hoá sinh, các bộ thiết bị thực tập cho Hoá và Y vật lý….

Cũng từ dự án cải tạo mở rộng, mặc dù đến 2007 mới có quyết định thành lập Bệnh viện nhưng từ năm 2006 đã đầu tư mua máy chụp cắt lớp vi tính 6 lát và một máy chụp loãng xương và năm 2007 đầu tư hệ thống khí y tế và thiết bị đồng bộ cho 5 phòng mổ.

- Dự án Giáo dục đại học bằng nguồn vốn vay của Ngân hàng thế giới (2000 -2007), thực hiện 3 đợt:

+ Đợt 1 QIG A: trị giá 500.000 USD, đã đầu tư toàn bộ mua mô hình để thành lập nên bộ môn Giáo dục y học và Kỹ năng tiền lâm sàng (2002)

+ Đợt 2: QIG B: trị giá 700.000 USD: đợt này toàn bộ kinh phí đầu tư mua sắm thiết bị và thành lập Trung tâm đào tạo Siêu âm và Nội soi can thiệp. Toàn bộ thiết bị đặt tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội.

+ Đợt 3 TRiG: trị giá 4 triệu USD, đợt này Trường Đại học Y Hà Nội và Đại học Y Dược Hồ Chí Minh là 2 trường được đầu tư mức cao nhất. Từ dự án này nhà trường đã mua được các hệ thống máy chính góp phần tạo cơ sở cho Bệnh viện, bao gồm: hệ thống chụp cộng hưởng từ 1.5 Tesla, hệ thống máy chụp mạch 1 bình diện và hệ thống máy chụp XQ kỹ thuật số.

Như vậy, việc hình thành bệnh viện từ chuyển đổi công năng nhà Tiền lâm sàng có phần đóng góp rất lớn từ 2 dự án là dự án Cải tạo mở rộng và dự án Giáo dục đại học. Đây là quyết định rất kịp thời và táo bạo của Nhà trường trong khi Bộ Y tế không chính thức cấp ngân sách cho xây dựng Bệnh viện mà vẫn có được các thiết bị chính để khi trình đề án thành lập, Bệnh viện đã có đủ điều kiện cơ sở vật chất cơ bản để Bộ Y tế ra Quyết định 137/QĐ-BYT ngày 16 tháng 1 năm 2007 thành lập bệnh viện và chỉ nửa năm sau khi có Quyết định thành lập của Bộ Y tế, Bệnh viện đã triển khai đón tiếp bệnh nhân (19/9/2007).

- Dự án Tăng cường trang thiết bị bộ môn SLB – Miễn dịch trị giá 3,5 tỷ đồng (2007 - 2009), bộ môn đã được trang bị một số thiết bị cao cấp cho nghiên cứu Miễn dịch và thiết bị sinh học phân tử.

- Dự án “Áp dụng các tiến bộ KHKT y sinh học để phát hiện, chẩn đoán và đề xuất biện pháp can thiệp cho các gia đình bị bất thường sinh sản do nguy cơ ảnh hưởng của chất độc hóa học trong chiến tranh” (dự án Dioxin 2004 - 2009) 24.915 triệu (YHN 16 tỷ) phối hợp giữa Trường và Bệnh viện Từ Dũ – Thành phố Hồ Chí Minh. Dự án tập trung đầu tư cho Bộ môn Y sinh học Di truyền. Đây là dự án tuy không lớn nhưng đã có đóng góp rất quan trọng trong việc chuẩn hoá quy trình các xét nghiệm chẩn đoán trước sinh - tư vấn di truyền mà hiện nay ở hầu hết các bệnh viện đang thực hiện.

- Dự án “Tăng cường trang thiết bị phòng thí nghiệm nghiên cứu tác động của môi trường đến sức khỏe con người” của Khoa Y tế công cộng, trị giá 3,5 tỷ đồng (2008 - 2010), kết hợp với dự án xây dựng Labo PCR do Cục Y tế dự phòng Bộ Y tế đầu tư trong chương trình chống dịch cúm gia cầm H5N1. Hiện nay, khu Labo được cải tạo và đầu tư mới tại tầng 3 nhà B1 vừa là trung tâm nghiên cứu vừa là cơ sở thực tập của Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế Công cộng.

- Dự án “Xây dựng phòng thí nghiệm nghiên cứu về gene – protein trong y học” trị giá 38.052 triêu đồng (2008-2011). Đây là một trong những dự án trọng điểm quốc gia đầu tư nghiên cứu chuyên sâu về y sinh học phân tử trong y tế. Trên cơ sở Labo trung tâm đặt tại tầng 2 nhà A3 (1997), sau đầu tư từ dự án này, labo Trung tâm đổi tên thành “Trung tâm nghiên cứu Gene – protein”. Hiện tại, đây là một trong những labo hiện đại nhất trong hệ thống các trường Y trong cả nước.

- Dự án Xây dựng Trung tâm Kiểm chuẩn các xét nghiệm y học, trị giá 30 tỷ đồng (2012 - 2014) đặt tại tầng 6 nhà A6, khai trương hoạt động ngày 27/9/2011. Cùng trung tâm thứ 2 đặt tại Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh, 2 trung tâm này có trách nhiệm kiểm chuẩn kết quả xét nghiệm của các thiết bị xét nghiệm y học của tất cả các Bệnh viện..

- Đặc biệt Dự án “Chương trình phát triển nguồn nhân lực y tế” bằng nguồn vốn vay của Ngân hàng Châu á – ADB, phần đầu tư cho trường trị giá 5,7 triệu USD, chỉ dành đầu tư thiết bị giảng dạy cho các bộ môn Y học cơ sở, Khoa học cơ bản và Tiền lâm sàng. Từ dự án này nhà trường đã trang bị mới thiết bị đồng bộ cho 100% các giảng đường. Tất cả các Bộ môn Y học cơ sở, khoa học cơ bản và các bộ môn đào tạo kỹ năng tiền lâm sàng được đầu tư đổi mới hầu hết các thiết bị thực tập, đáp ứng cơ bản điều kiện thực hành cho sinh viên với các trang thiết bị hiện đại, góp phần đổi mới chương trình đào tạo và xây dựng được nhiều kỹ thuật, kỹ năng mới.

- Cũng từ dự án này, Nhà trường xây dựng và đầu tư mới cho một số hạng mục như: toàn bộ khu Labo của Viện Đào tạo Y Học dự phòng và YTCC; toàn bộ trang thiết bị Khoa Kỹ thuật Y học, Mô hình và phần mềm 3D giảng giải phẫu; thiết bị chẩn đoán hình ảnh của Viện Đào tạo Răng Hàm Mặt; Trung tâm thực hành mô phỏng Phẫu thuật nội soi của BM Phẫu thuật thực nghiệm, các phòng thực hành chuẩn hiện đại cho Khoa Điều dưỡng – Hộ sinh và Phòng thực hành Tiền lâm sàng của Bộ môn Giáo dục y học và kỹ năng Tiền lâm sàng. Đặc biệt đã đầu tư mới các phòng thi trên máy tính của Trung tâm khảo thí, qua đó thay đổi phương pháp thi và lượng giá kết quả của sinh viên.

- Là đơn vị chính tham gia cùng Ban quản lý dự án cải tạo mở rộng và các đơn vị chức năng trong việc đầu tư cơ sở vật chất ban đầu để thành lập Bệnh viện Đại học Y Hà Nội.

Tóm lại: Đầu tư trang thiết bị giai đoạn này là nổi bật nhất trong suốt chặng đường 115 năm hoạt động của Nhà trường. Trước những năm 90 đa số trang thiết bị phương tiện giảng dạy là từ các nước XHCN, giảng đường chủ yêu sử dụng bảng đen, phấn trắng và tranh vẽ. Đến giai đoạn từ 1990 – 2002 Nhà trường đã bước đầu có trang bị trang thết bị hiện đại từ các nước Tư bản (giảng đường dùng máy chiếu phim dương bản và máy chiếu Overhead), một số thiết bị thực tập của viện trợ JICA Nhận Bản 1995 và từ đầu tư Trung tâm y tế chuyên sâu 1997 thì từ năm 2002, Nhà trường được đầu tư đổi mới ở tất cả các Bộ môn. Ở tất cả các giảng đường đã sử dụng máy chiếu đa năng. Các phòng thực tập đã được trang bị thiết bị đồng bộ hiện đại như phòng Kính hiển vi, phòng thực hành máy tính, phòng dạy ngoại ngữ, các thiết bị thực tập ở các bộ môn. Đặc biệt các thiết bị phục vụ NCKH được đầu tư nhiều như nhóm thiết bị Sinh học phân tử, Sinh hoá miễn dịch, Công nghệ mô phôi, vật liệu cấy ghép, tư vấn di truyền và sàng lọc trước sinh, hỗ trợ sinh sản, thăm dò chức năng…và nhóm thiết bị thực hành tiền lâm sàng như các mô hình kỹ năng, thiết bị mô phỏng của trung tâm đào tạo Tim mạch can thiệp, Phẫu thuật Nội soi, Nội soi chẩn đoán….góp phần đào tạo cán bộ cho Bệnh viện của nhà trường và đào tạo nhiều cán bộ cho các địa phương mà trước đây nhà trường hầu như chưa có giúp cho nhà trường có điều kiện thực hiện hầu hết các nghiên cứu chuyên sâu y học và thực hiện chuyển giao công nghệ.

IV. THÀNH TÍCH ĐẠT ĐƯỢC

Từ các chức năng chính trên, trong thời gian qua mặc dù một số cán bộ của phòng được nghỉ chế độ, số biên chế không ngừng giảm nhưng phòng đã duy trì và phát huy được truyền thống của mình và đạt được những thành tích sau:

- Thành tích nổi bật của phòng là đáp ứng đầy đủ nhu cầu về vật tư, trang thiết bị, hoá chất, súc vật cho hoạt động chuyên môn của trường và không ngừng nâng cao về số lượng, chất lượng phục vụ..... Không để ảnh hưởng đến kế hoạch giảng dạy, học tập và NCKH của Nhà trường.

Không ngừng cải tiến phương pháp phục vụ, tìm nguồn cung ứng để đáp ứng tốt chất lượng hàng hoá và yêu cầu kỹ thuật đa dạng của các bộ môn.

- Tham gia và đóng góp hiệu quả vào việc xây dựng dự án Cải tạo mở rộng trường Đại học Y Hà Nội, xây dựng Chiến lược phát triển Công nghệ thông tin. Cùng các Ban quản lý dự án triển khai đầu tư xây dựng các Labo kỹ thuật cao trong các đơn vị góp phần đổi mới hầu hết trang thiết bị giảng dạy và NCKH cho các bộ môn Y học cơ sở và thực hành tiền lâm sàng.

- Liên tục đổi mới và trang bị phương tiện giảng dạy hiện đại cho các giảng đường và các Bộ môn, góp phần thúc đẩy việc áp dụng phương pháp giảng dạy tích cực trong Nhà trường.

- Trong thời gian phòng quản lý công tác điện – nước (1998 – 2013) đã không ngừng cải tiến biện pháp cung cấp và quản lý việc sử dụng điện, nước góp phần đảm bảo hoạt động của toàn trường, nâng cao ý thức của sinh viên cũng như ổn định trật tự, văn minh KTX và tiết kiệm ngân sách.

- Là đơn vị nòng cốt trong Hội đồng an toàn, bảo hộ lao động, thường xuyên kiểm tra việc thực hiện đúng các yêu cầu về quy trình, quy phạm trong lao động. Trong những năm qua trong trường không để xảy ra vụ tai nạn lao động nào lớn. Nhà trường liên tục được Bộ Y tế công nhận là đơn vị xuất sắc trong công tác an toàn và BHLĐ.

Những hoạt động khác:

Tham gia BCH Đảng bộ: Đ/c. Phạm Kim Quy: UV BCH đảng bộ nhiệm kỳ 1985-1988. Đ/c Vũ Văn Đoan: UV BCH nhiệm kỳ 2009-2014, Phó chủ nhiệm UB Kiểm tra Đảng uỷ

Tham gia BCH Công đoàn trường: Đ/c. Vũ Văn Đoan: UV BCH CĐ từ khoá 23, đến khoá 31, trong đó là Phó Chủ tịch công đoàn trường nhiệm kỳ 28, 29, 30,31.

Đ/c. Phạm Hữu Hạnh: UV BCH CĐ khoá 26, 27; UV Thường vụ khoá 26 -Trưởng ban Thanh tra nhân dân từ 1996 đến 2004.

Các Khen thưởng tập thể và cá nhân đã được tặng thưởng:

- Tập thể Phòng được tặng thưởng:

Huân chương Lao động hạng Ba năm 2008

Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ năm 2004

4 Bằng khen của Bộ Y tế (2002, 2008, 2015, 2016)

4 Bằng khen của Công đoàn ngành Y tế cho tổ Công đoàn

1 Bằng khen của Công đoàn Giáo dục Việt Nam cho tổ Công đoàn

2 Bằng khen của Công đoàn ngành Y tế cho tổ nữ

- Nhiều cán bộ của phòng được nhận Kỷ niệm chương Vì sự nghiệp Giáo dục, Vì sự nghiệp Bảo vệ sức khoẻ nhân dân, Vì sự nghiệp XD tổ chức Công đoàn, Huân, Huy chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước và Bằng khen của các cấp.

KS. Vũ Văn Đoan được tặng Huân chương lao động hạng Ba năm 2012